Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình, ngọn núi Sạc Sơn của quê hương

Tháng Năm 17, 2016 at 12:01 chiều Để lại bình luận

TIẾN SỸ NGUYỄN VĂN TRÌNH, NGỌN NÚI SẠC SƠN CỦA QUÊ HƯƠNG

Phan Duy Kha

Tiến sỹ Nguyễn Văn Trình (ở quê thường gọi là Cụ Thượng Trình, vì ông về hưu với hàm Thượng thư) quê ở làng Kiệt Thạch, huyện Thiên Lộc xưa (nay là xã Thanh Lộc, CanLộc, Hà Tĩnh). Làng Kiệt Thạch ở dưới chân núi Cài, nên dân gian quen gọi là làng Kẻ Cài. Từ xưa, dân gian đã có câu “Kiệt Thạch tam khoa tam tiến sỹ” (Làng Kiệt Thạch ba khoa có ba người đỗ Tiến sỹ). Ba Tiến sỹ đó là các ông: Hoàng Hiền (đỗ Tiến sỹ năm 1478) , Nguyễn Cung (đỗ Tiến sỹ năm 1493) và Thái Kính (đỗ Tiến sỹ năm 1511). Các ông sống vào nửa cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16. Trải qua hơn 300 năm, làng không có ai đỗ Đại khoa. Đến cuối thế kỷ 19, Nguyễn Văn Trình là người ghi tiếp tên mình vào lich  sử khoa bảng của làng.

TS Nguyễn Văn Trình sinh năm 1871, trong một gia đình nông dân nghèo. Từ nhỏ đã ham học. Vốn tính thông minh, đĩnh ngộ, năm 27 tuổi ông thi đỗ TS khoa Mậu Tuất (1898) dưới triều vua Thành Thái.

Sau khi thi đỗ, ông được bổ Tri phủ Hưng Nguyên, Nghệ An.  Hồi đó, Giáo thụ phủ Hưng Nguyên là Đặng Nguyên Cẩn, đỗ Phó bảng năm 1895. Giáo thụ là chức quan coi việc giáo dục của một phủ. Một tri phủ và một giáo thụ đều là những người đỗ đại khoa , đều là khách văn chương, thơ phú nên các ông làm việc với nhau rất tâm đắc. Các ông lại có nhiều bạn bè văn chương khắp trong nam, ngoài bắc.

  1. Xuất xứ bài thơ Đăng Lam Thành hoài cổ.

Một buổi chiều đẹp trời mùa hè, vào khoảng năm 1898 – 1899, Tri phủ Nguyễn Văn Trình, Giáo thụ Đặng Nguyên Cẩn rủ thêm hai người bạn văn chương là Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền và Tiến sỹ Ngô Đức Kế, mang bầu rượu, túi thơ lên núi Lam Thành ngắm cảnh. Năm ấy các nhà thơ của chúng ta mới trong ngoài 30 tuổi (Chính Nguyễn Văn Trình cho biết, ông làm bài thơ này lúc 28 tuổi, , Đặng Nguyên Cẩn sinh năm 1867, hơn Nguyễn Văn Trình 4 tuổi, Nguyễn Thượng Hiền sinh năm 1868, hơn 3 tuổi, còn Ngô Đức Kế, sinh năm 1879, kém đến 8 tuổi).

Núi Lam Thành hay núi Thành, dân gian quen gọi là Rú Thành, có độ cao 169 mét, nằm ở bờ bắc sông Lam, thuộc địa phận huyện Hưng Nguyên (Nghệ An). Trên ngọn núi này có thành bằng đá do tướng giặc Minh là Trương Phụ xây nên. Sau khi xâm chiếm nước ta, Trương Phụ đã cho xây thành, đóng quân trên núi để khống chế dọc sông Lam và cả một vùng đồng bằng rộng lớn Nghệ Tĩnh. Ngày nay vẫn còn dấu tích thành và cột cờ Trương Phụ. Nhắc đến núi Thành là nhắc đến sự tích Nguyễn Biểu, vị sứ thần gan dạ của vua Trần Trùng Quang. Lúc bấy giờ vua Trùng Quang đóng bản doanh ở huyện Chi La (Đức Thọ, Hà Tĩnh ngày nay) ở phía nam sông Lam. Nguyễn Biểu vâng mệnh, vượt sông Lam sang bờ bắc để gặp Trương Phụ đang đóng quân ở núi Thành, để đặt vấn đề cầu phong. Đó là một vấn đề vô cùng khó khăn vì ta đang ở thế yếu mà giặc thì rất tàn ngược. Để thử lòng gan dạ của Nguyễn Biểu, giặc đã dọn cỗ đầu người mời ông. Nguyễn Biểu đã điềm nhiên khoét mắt để ăn và còn làm bài thơ cảm khái, tự ví mình với Phàn Khoái, tráng sĩ thời Hán Cao Tổ: “Kia kìa ngon ngọt tày vai lợn/ Tráng sĩ như Phàn, tiếng để đời”. Giặc rất cảm phục lòng gan dạ, kiên trung của ông, định tìm cách dụ dỗ, mua chuộc ông làm việc cho chúng, nhưng không được. Vì vậy, chúng đã hèn hạ bắt trói ông dưới chân Cầu Lam (Lam Kiều) để nước thủy triều dâng lên, dìm chết ông.  Sau ngày đánh đuổi được giặc Minh xâm lược, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ông. Ngày nay dưới chân núi Thành còn đền thờ Nguyễn Biểu, gọi là Nghĩa Vương từ.

Vậy là một buổi chiều mùa hè, bốn nhà văn chương khoa bảng yêu nước nối gót nhau leo lên đỉnh núi Thành. Các ông mang theo bầu rượu, túi thơ lên đỉnh núi thưởng ngoạn như kiểu thanh niên chúng ta đi picnic bây giờ. Hôm ấy là một ngày đẹp trời. Đứng trên đỉnh núi nhìn được bao quát cả một vùng rộng lớn đất Hồng Lam quê hương. Từ đây nhìn về phía tây là rặng Thiên Nhẫn với ngàn đỉnh nhấp nhô như ngựa phi.Trong dãy núi có thành Lục Niên, căn cứ kháng chiến của Lê Lợi năm xưa ; có trại Bùi Phong của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp ở ẩn trước khi ra cộng tác với nhà Tây Sơn. Về phía đông là núi Hồng Lĩnh hùng vĩ với 99 đỉnh, sừng sững nhấp nhô. Bên kia núi Hồng Lĩnh là huyện Nghi Xuân, quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du, của Nguyễn Công Trứ, cũng là quê của Hoàng giáp Phan Chính Nghị thời Lê. Nhìn về hướng Nam là các làng Trường Lưu, Lai Thạch, quê hương của các nhà khoa bảng, nhà nho nổi tiếng như Phan Kính, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự… Ở đó có một ngọn núi nho nhỏ nhô lên giữa đồng bằng, đó là núi Sạc Sơn, hay Thốc Sơn (tức núi Cài) quê hương của TS Nguyễn Văn Trình.

Gió từ sông Lam thổi lên mát rượi, trời mây xanh trong, sơn thủy hữu tình, tâm hồn thơ thới, càng gợi hứng thi nhân. Bốn người hẹn nhau mỗi người sẽ làm một bài thơ, lấy cảm hứng sáng tác là : Đăng Lam Thành hoài cổ (Lên núi Lam Thành nhớ chuyện xưa). Thể loại tùy chọn.Thời gian hạn định bằng cách đốt một nén hương trầm. Khi hương cháy tàn thì phải làm xong (tức khỏang 30 phút). Thế rồi khi đã tàn hương thì cả bốn thi nhân đều “nộp quyển” như hạn định. Bài của Đặng Nguyên Cẩn làm theo thể phú, bằng Hán văn. Bài của Nguyễn Văn Trình bằng văn Nôm, thể song thất lục bát theo điệu ca trù dân dã, rất dễ nhớ. Còn bài của các ông Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế thì tiếc thay bị thất truyền, nay không còn sưu tầm lại được.

Cũng vì bài phú bằng chữ Hán, và bài thơ bằng quốc âm đều có tên là “Đăng Lam Thành hoài cổ”, nên các nhà sưu tầm đời sau dễ nhầm lẫn cho rằng bài văn Nôm là dịch từ bài Hán văn mà ra. Thực ra thì đây là hai bài có cảm hứng sáng tác, mạch nguồn cảm xúc khác nhau, độc lập với nhau, chứ không phải từ bài nọ dịch ra bài kia. Ví dụ trong bài phú của Đặng Nguyên Cẩn mở đầu bằng những câu: Hưng quận chi Nam/ Hữu sơn ngật lập/ Quyết danh Lam Thành/ Quần phong củng ấp/ Hộ dĩ trường giang/ Hoàn dĩ Thông ấp…” (Nghĩa là: Phía nam huyện Hưng Nguyên, có núi cao sừng sững, tên gọi là Lam Thành. Các núi khác đều chầu về, lại có sông dài bao bọc, Ấp Thông bao quanh…). Trong khi đó bài của Nguyễn Văn Trình mở đầu lại là: “Hồng Lĩnh thiên thu chung tú khí/Bồng lai nhất tọa liệt tiên cung/ Chí nam nhi một đấng hào hùng/ Văn Thái sử lạ lùng từ thuở bé…/Đeo cầm hạc ra chơi cận địa/ Một non sông một vẻ lưu đề…”

Một người thì chú ý tả ngoại cảnh, vị trí địa lý, núi sông cụ thể, một người thì chủ ý tả nội tâm, sao lại có thể người nọ dịch của người kia được, dù là phỏng dịch (1). Vả lại, Đặng Nguyên Cẩn vào bài là đề cập ngay đến Lam Thành, còn Nguyễn Văn Trình thì “đi” từ Hồng Lĩnh quê nhà rồi mới đến Lam Thành kia mà! Tất nhiên vì là đề tài nhớ đến chuyện xưa ở Lam Thành nên cả bài Hán văn và bài Văn Nôm đều nhắc đến sự kiện Nguyễn Biểu đi sứ và sự kiện Lê Thái Tổ khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh xâm lược. Cả hai đều dùng chuyện xưa để ký thác vào đó tinh thần yêu nước và lòng tự hào đối với lịch sử oai hùng của dân tộc.

Tâm sự lúc về hưu

Đối với Nguyễn Văn Trình, được về hưu, về với sông Lam, núi Hồng, về với bà con xóm giềng hôm sớm dũ bỏ con đường đua chen danh lợi như là một sự giải thoát. Trong di cảo thơ ông, người ta đọc được một bài thơ đặc biệt, ghi lại tâm sự lúc về hưu, mở đầu bằng câu : “Quy khứ lai hề,  quy khứ lai!” nghe như một tiếng reo vui vì vừa trút được gánh nặng. Bài thơ làm theo điệu ca trù rất dân dã:

Quy khứ lai hề, quy khứ lai!

Đường danh lợi khéo chen vai cho mệt xác

Soi gương thấy tóc râu đã bạc

Tấm lòng son nguyện ước với ba sinh

Kìa sông Lam biếc, núi Hồng xanh

Ờ non nước nhà mình là đó đó…

Bài thơ như một sự tổng kết cuộc đời làm quan của bản thân mình và cho rằng, làm được như thế là do duyên phận chứ mình chẳng có tài cán gì:

May gặp gỡ là do duyên phận

Tài sức mình chẳng dám lấn cùng ai

Cuộc trăm năm , 56 (tuổi) mới ngoài

Gẫm gánh nặng đường dài còn ngán nỗi

Cuối cùng ông gửi gắm hi vọng vào thế hệ tương lai , những người tiếp bước cha anh để xây dựng một xã hội mới:

Các người còn trẻ tuổi đầu xanh

Phải gắng sao cho học hành, hạnh lập

Cho tài luyện, trí hoành

Cho hòa bình tiến bộ, cho trung hiếu dương danh

Bốn ngàn năm chung đúc tinh anh

Chừng thay thế laõ thành còn có kẻ…

Nguyễn Văn Trình làm quan đến năm 56 tuổi thì về hưu. Từ khi về hưu, ông ở nhà vui thú điền viên cùng con cháu, hàng ngày chống gậy trúc đi chơi quanh làng, bảo ban lớp con cháu điều hay, lẽ phải, xướng họa thơ văn với các bạn văn chương xa gần. Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công, tuy đã ngoài 70, ông vẫn tham gia hoạt động cùng con cháu, làm Ủy viên Ủy ban mặt trận Liên Việt huyện Can Lộc (tức Ủy ban Mặt trận Tổ quốc sau này). Nguyễn Văn Trình mất năm 1949, hưởng thọ 78 tuổi. Ông là một nhà nho đạo cao đức trọng, nặng tình yêu nước thương dân. Xung quanh quê ông có nhiều ngọn núi đẹp như Hồng Lĩnh 99 đỉnh hùng vĩ ở phía đông, Trà Sơn thâm u một giải ở phía tây, nhưng ông chỉ chọn Thốc Sơn (tức Sạc Sơn, núi Cài) một ngọn núi nhỏ thân thương ở quê hương làm bút hiệu. Ông là hiện thân cho tính khoan hòa, khiêm nhượng của quê ta.

Hà Nội,  tháng 5.2016

PDK

Chú thích (1): Hợp thuyển thơ văn Việt Nam 1885-1930, do Viện Văn học biên soạn (Nxb Văn hóa , 1963) và Hợp thuyển thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ 20 (Nxb Văn học, 1976) đều ghi dưới bài thơ nôm Đăng Lam Thành hoài cổ là Nguyễn Văn Trình (Thốc Sơn) phỏng dịch.

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Đất nước, những năm tháng ưu tư Bao giờ mới thực hiện Di chúc của Cụ Hồ ?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Năm 2016
M T W T F S S
« Mar   Jun »
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: