Số phận bi thương của Ngọc Hân công chúa

Tháng Mười Một 17, 2015 at 7:07 sáng Để lại bình luận

SỐ PHẬN BI THƯƠNG  CỦA NGỌC HÂN CÔNG CHÚA.
1.Ý đồ chính trị trong cuộc hôn nhân Ngọc Hân – Nguyễn Huệ
Lê Ngọc Hân (1770 – 1799) là con gái của vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền. Lê Hiển Tông là ông vua già an phận ngồi làm vì trên ngai vàng, để cho chúa Trịnh Sâm mặc sức chuyên quyền. Thậm chí khi Trịnh Sâm vu oan rồi giết hại con trai cả của ông là Thái tử Lê Duy Vĩ, ông cũng không có một hành động nào để bảo vệ con trai, đành để cho người ta xông vào cung bắt giết con trai mình. Mối thù đối với chúa Trịnh ông chôn chặt trong lòng chứ không dám hé lộ cùng ai.

Vì vậy mà vào tháng 6 năm Bính Ngọ (1786) khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lật đổ cơ đồ hơn 200 năm của họ Trịnh, trả lại nước cho nhà Lê, trong thâm tâm nhà vua cũng thấy hởi lòng, hởi dạ.

Tuy nhiên, ông chẳng có gì để trả ơn người anh hùng, đành chỉ phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyên soái Phù chính Dực vũ Uy quốc công, một thứ chức tước hữu danh vô thực, chẳng vinh dự lợi lộc gì thêm cho người được phong. Nguyễn Huệ bất bình nói với tả hữu dưới trướng: “Ta đem mấy vạn quân ra đây, đánh một trận dẹp yên thiên hạ, muốn xưng đế, xưng vương gì mà chẳng được. Cái chức Nguyên soái, Quốc công có thêm được gì đâu. Nếu ta không nhận thì ngại Hoàng thượng bảo là ta kiêu căng. Song nhận mà không nói gì thì người trong nước lại bảo ta là mọi rợ, nên nhân tiện nói chuyện cũng nói ra mà thôi” (1).

Nguyễn Hữu Chỉnh là kẻ rất biết chiều ý bề trên. Thấy Nguyễn Huệ không vui, sợ có gì sứt mẻ tình cảm giữa vua Lê và chúa Tây Sơn, sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp tương lai của mình, mới nói thác ra rằng: “Nhà vua đơn bạc, không có gì đáng để tặng. Cái tước danh nhỏ mọn, không làm ngài sang thêm. Bản ý Hoàng thượng vẫn cho rằng mình đã cao tuổi, sau khi ngài về Nam, không biết nương tựa vào ai, nên người muốn nối tình thân hai họ, để cho hai nước đời đời kết tình thông gia, giao hảo. Nhưng vì chưa hiểu ý ngài thế nào nên Hoàng thượng vẫn còn trù trừ chưa dám nói rõ…” (2).

Thực ra đây là lời bịa đặt của Nguyễn Hữu Chỉnh, để lấy lòng Nguyễn Huệ, nhưng không ngờ lại trở thành sự thật. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh đặt vấn đề ấy ra, cả vua Lê Hiển Tông và Nguyễn Huệ đều bằng lòng. Vì cả hai bên đều thấy được sự cần thiết trong mối lương duyên này.

Nhà Lê thông qua việc kết hôn sẽ gắn kết hơn giữa Nguyễn Huệ với triều đình, để làm chỗ nhờ cậy trước tình hình bất ổn về chính trị lúc này. Còn Nguyễn Huệ, thông qua mối nhân duyên, sẽ hiểu thêm về hiện tình của triều đình, về nội bộ hoàng tộc nhà Lê, một điều rất cần thiết để qua đó ông nắm được Bắc Hà.

Nguyễn Huệ là một người rất tự chủ và rất có tài nói đùa. Câu ông pha trò: “Vì dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà về, bọn trẻ cười cho thì sao? (Nguyễn Huệ lúc này đã 36 tuổi). Tuy nhiên ta mới chỉ quen gái Nam Hà, chưa biết con gái Bắc Hà, nay cũng nên thử một chuyến xem có tốt không?” (3), làm cho mọi người đều cười ầm, là câu nói đùa đúng lúc nhằm che giấu ý đồ chính trị mà thôi.

Cuộc hôn nhân giữa Nguyễn Huệ – Ngọc Hân, xuất phát ban đầu là ý đồ chính trị. Nhưng qua quá trình sống bên chồng, bà đã chiếm trọn niềm tin, tình yêu của người anh hùng. Dù vô tình hay hữu ý, Ngọc Hân đã làm tròn sứ mệnh lịch sử: Là cái gạch nối giữa triều đình nhà Lê với nghĩa quân Tây Sơn.

Bà Hoàng đoản thọ, nắm xương tàn cũng không yên

– Một nàng công chúa tài sắc vẹn toàn, làm vợ một vị anh hùng cái thế, cuộc đời tưởng chừng như hạnh phúc đến tột cùng. Ấy thế mà kết cục lại thật bi thảm, cho đến nắm xương tàn cũng không được yên.
Sau ngày đại thắng, Quang Trung về Phú Xuân tiến phong Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng hậu. Ngọc Hân được hưởng những năm tháng tràn đầy hạnh phúc bên người chồng anh hùng. Bà sinh được hai người con, một gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo (SN 1788) và một trai là Nguyễn Quang Đức (SN 1790). Tuy nhiên, hạnh phúc đó không được bao lâu.

Tháng 9/1792, Quang Trung đột ngột từ trần. Mới 22 tuổi đầu, với hai đứa con thơ một lên 4 và một lên 2, Ngọc Hân trở thành goá bụa. Bà sống cô quạnh trong nỗi nhớ thương chồng. Tình cảm đau xót triền miên dần hút hết sinh lực của bà.
Năm 1796, sau khi Quang Trung mất được 4 năm, Triều đình Quang Toản có bố trí cho Ngọc Hân về Bắc thăm quê 1 lần, và có lẽ đây cũng là lần duy nhất trong suốt mười mấy năm sống ở Phú Xuân. Lê Triều dã sử chép: “Năm Bính Tý (1796) Công chúa Ngọc Hân cùng với con là Thành Công (có lẽ là Hoàng tử Nguyễn Văn Đức) từ Phú Xuân ra Bắc thành. Dân ven đường phải tu sửa hành tại (tức chỗ nghỉ tạm dọc đường) cực khổ khôn xiết). Tháng 3 lại trở về Phú Xuân” (Trích Lê triều dã sử)

3 năm sau (năm 1799), Ngọc Hân từ trần khi mới 29 tuổi đời. Hai năm sau (1801), Nguyễn Ánh tấn công vào Phú Xuân, vua tôi Quang Toản bỏ kinh thành chạy ra Bắc Hà. Hai con của Ngọc Hân còn thơ ấu đều bị bắt.
Một sĩ quan Pháp là Barizy theo chân Nguyễn Ánh vào Phú Xuân có đến nhà tù giam những người con của vua Quang Trung đã mô tả lại trong thư của ông viết vào ngày 16/7/1801: “…họ ở trong một căn phòng hơi tối, có tất cả 5 công chúa, một cô 16 tuổi, theo tôi là một cô gái đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái bà công chúa Bắc Kỳ (tức Ngọc Hân), em này cũng coi được… Ngoài ra còn có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi da nâu nhưng nét mặt tầm thường. Còn em trai kia độ 12 tuổi là con bà công chúa Bắc Kỳ thì diện mạo rất đáng yêu và có những cử chỉ rất dễ thương”.

Như vậy là cả con trai và con gái của Ngọc Hân đều bị bắt khi Nguyễn Ánh tấn công chiếm Phú Xuân vào tháng 5/1801 và sau đó bị giết vào tháng 11/1801; Là hai người trong số “con trai, con gái, họ hàng và tướng hiệu giặc, 31 người đều bị cắt nát thây” (Theo Đại Nam thực lục chính biên).

Sau ngày Gia Long thống nhất đất nước, bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền (mẹ của Ngọc Hân) lúc này còn sống, đã nhờ người tin cẩn, bí mật vào Phú Xuân, chuyển hài cốt 3 mẹ con Ngọc Hân về quê nhà ở làng Nành tức Phù Ninh, Đông Ngàn, Bắc Ninh (nay là Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội). Mộ của 3 mẹ con Ngọc Hân được chôn ở bãi Cây Đại (còn gọi là bãi Đầu Voi) làng Phù Ninh. Trước mộ có xây đền thờ.

Vào năm thứ 2 đời vua Thiệu Trị (1842) do mâu thuẫn giữa hai dòng họ, có người làng đã vào tận Kinh đô Phú Xuân tố giác việc thờ Ngọc Hân. Việc bị phát giác, Thiệu Trị đã cho người về huỷ đền thờ và đào bỏ hài cốt 3 mẹ con Ngọc Hân.

Sách Đại Nam thực lục chính biên ghi về sự kiện này: “Nguyên người xã ấy là Nguyễn Thị Huyền làm cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có con gái là Ngọc Hân gả cho nguỵ Huệ, sinh được một trai, một gái. Ngọc Hân chết, trai gái cùng chết non cả. Khoảng đầu năm Gia Long, nguỵ đô đốc tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở địa phận xã Phù Ninh; Thị Huyền ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi lại họ tên để làm mất dấu tích. Tới đây, việc ấy bị phát giác. Vua sai huỷ đền thờ và đào bỏ hài cốt kẻ nguỵ đi”.
*
Giải oan “lấy hai chồng” cho Ngọc Hân Công Chúa
1. Hiểu lầm

Số là có một người ứng với câu: “Con vua mà lấy hai chồng làm vua” thật. Đó là công chúa Lê Ngọc Bình, em gái của Lê Ngọc Hân. Lê Ngọc Bình là con gái thứ 29 và cũng là con gái út của vua Lê Hiển Tông và bà Nguyễn Thị Điều. Bà Điều cùng quê với bà Nguyễn Thị Huyền.
Nguyễn Ngọc Bình sinh năm 1783 thua Ngọc Hân 13 tuổi. Theo một tài liệu mới công bố gần đây (cuốn Chuyện cũ làng Nành của Nguyễn Khắc Quýnh chủ biên, NXB Văn hoá Dân tộc, 2004) thì Lê Ngọc Bình là con nuôi bà Nguyễn Thị Huyền.
Vào năm 1795, sau khi Thái sư Bùi Đắc Tuyên bị đánh đổ, thế lực ngoại thích không còn, Ngọc Hân có ý muốn hướng Quang Toản về Bắc Hà, nên làm mối em gái của mình cho Quang Toản. Năm đó, Ngọc Bình mới 12 tuổi. Ngọc Bình được phong làm Chính cung hoàng hậu, ở trong cung 6 năm trời nhưng chưa sinh con.
Tháng 5/1801, khi Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân, vua tôi Quang Toản bỏ chạy ra Bắc Hà, Ngọc Bình và một số cung nữ bị kẹt lại Phú Xuân. Thấy nàng là một người con gái trẻ đẹp, ăn nói dịu dàng, dáng điệu thướt tha, Gia Long rất ưng ý. Mặc cho các cận thần nhà Nguyễn kịch liệt phản đối vì cho rằng “thiên hạ thiếu gì đàn bà mà lại lấy thừa vợ của vua nguỵ”.
Tuy nhiên, Gia Long vẫn bỏ ngoài tai tất cả. Ngọc Bình được nạp làm phi và sau đó được phong làm Đệ tam cung Đức Phi (đứng thứ ba sau hai bà hoàng hậu là Thừa Thiên, mẹ hoàng tử Cảnh và Thuận Thiên, mẹ vua Minh Mạng).
Bà sinh được bốn người con (hai trai, hai gái). Hai hoàng tử là Quảng Oai công Nguyễn Phúc Quân (1809) và Thường Tín công Nguyễn Phúc Cự (1810); Hai công chúa là Mỹ Khê Ngọc Khuê và An Nghĩa Ngọc Ngôn. Đức phi Ngọc Bình mất vào năm 1810, sau khi sinh hoàng tử Phúc Cự. Năm ấy bà mới 27 tuổi.
2. Ai giúp chuyển mộ ra Bắc

Từ việc tác thành em gái của mình cho con trai của chồng, ta có thể thấy, thuở sinh thời hai chị em Ngọc Hân, Ngọc Bình rất thân nhau.images
Trong việc chuyển hài cốt ba mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về quê (vào năm 1804), ta thấy nổi lên hai vấn đề: Một là, vào tháng 11/1802, Gia Long trả thù nhà Tây Sơn rất tàn khốc, đã cho quật phá lăng mộ của vợ chồng, anh em của Quang Trung, riêng mộ Ngọc Hân vẫn còn nguyên vẹn. Có như thế thì “nguỵ” đô đốc Hài, người thân tín của bà Nguyễn Thị Huyền mới tìm ra và tiến hành cất bốc được. Phải chăng, Gia Long vì “nể” Ngọc Bình mà không động chạm đến mộ Ngọc Hân?
Hai là, quá trình “nguỵ” đô đốc Hài bí mật vào Phú Xuân đào bới, cất bốc, di chuyển hài cốt ba mẹ con Ngọc Hân nếu không có tay trong ngầm giúp, thì khó mà trót lọt. Tay trong đó là ai, nếu không phải là Ngọc Bình?
Do hai chị em Ngọc Hân và Ngọc Bình có nhiều điểm tương đồng nhau, đều cùng là công chúa nhà Lê và đều cùng làm hoàng hậu nhà Tây Sơn, mặt khác do Ngọc Hân là người nổi tiếng nên khi nhắc đến công chúa nhà Lê và hoàng hậu nhà Tây Sơn lại lấy vua Gia Long, người ta nghĩ ngay đến Ngọc Hân, tưởng nhầm là bà, ít ai nghĩ đến Ngọc Bình. Đó là lý do vì sao có tin đồn Ngọc Hân lấy vua Gia Long. Thật ra thì Ngọc Hân đã từ trần hai năm trước khi Gia Long chiếm lại được Phú Xuân.

Trong Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực có ghi một sự kiện vào tháng 5 năm Gia Long thứ 3 (1804): “Cố Lê công chúa Ngọc Hân mất.  Năm Bính Ngọ (1786) đời Cảnh Hưng, vua Lê gả Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ, đến lúc Ngụy Tây mất, Ngọc Hân lui về quê mẹ ở Phù Ninh; đến bấy giờ chết. Hàng thần làm quan ở huyện Đông Ngàn xin cho làm lễ an táng. Vua ưng cho. Dân Phù Ninh lập đền thờ bà”. Thực ra thì Phan Thúc Trực đã nhầm. Ngọc Hân đã mất từ năm 1799, còn lễ an táng mà các “hàng thần” làm quan ở huyện Đông Ngàn xin làm lễ an táng đó là an táng hài cốt của ba mẹ con Ngọc Hân do Đô đốc Hài cất bốc di chuyển từ Phú Xuân về mà thôi. Nhưng qua ghi chép này, chúng ta cũng có thể thấy, việc an táng và lập đền thờ Ngọc Hân đã thấu đến tận triều đình của vua Gia Long.

(Trích từ cuốn Từ điện Kính THiên triều Lê đến Tổng Hành dinh thời đại Hồ Chí Minh, Nxb Dân trí, 2010)

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Bí ẩn cuộc đời danh tướng Tây Sơn Vũ Văn Dũng Sự kiện đạo Phật truyền vào nước ta được ghi trong Ngọc phả Hùng Vương

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Mười Một 2015
M T W T F S S
« Oct   Jan »
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: