Tìm hiểu một số bản Ngọc phả Hùng Vương khác

Tháng Mười 30, 2015 at 12:58 sáng Để lại bình luận

THƯ TỊCH NGỌC PHẢ, THẦN TÍCH VÀ VẤN ĐỀ LỊCH SỬ THỜI HÙNG VƯƠNGphat-hien-nam-viet-hung-vuong-ngoc-pha-co-nhat11425440742
Thời đại Hùng Vương là buổi bình minh của dân tộc Việt Nam với nền nông nghiệp lúa nước, với kỹ thuật chế tác gốm và đồng ở trình độ cao, với một nhà nước sơ khai là hình thức chính quyền đầu tiên của dân tộc, đó là nhà nước Văn Lang của triều nhà Hùng do các “Vua Hùng” hay dòng họ thủ lĩnh Đại liên minh bộ lạc Văn Lang quản lý đất nước.
Để có thể có những thông tin cần thiết về sự tồn tại của nhà nước Văn Lang, của triều nhà Hùng, người ta đã dựa vào nhiều nguồn tư liệu: dân tộc học, khảo cổ học, phong tục học… nhưng các tư liệu này chỉ có thể cung cấp những tín hiệu, những dữ liệu về xã hội học, về trình độ văn hóa và kỹ thuật v.v. của thời kỳ được gọi là “dựng nước”; còn những vấn đề cơ bản như: nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng tồn tại bao nhiêu thế hệ vương triều, thể chế của vương triều Hùng, nguồn gốc của dòng nhà Hùng và triều Hùng Vương, thủ đô nước Văn Lang là ở đâu v.v… Tất cả những vấn đề này là đối tượng nghiên cứu của sử học.
Các nhà sử học thời phong kiến đã dựa vào và tất yếu chỉ có thể dựa vào hai nguồn tư liệu: các truyền thuyết thần thoại về thời các Vua Hùng và các ngọc phả, thần tích được lưu giữ ở các đền miếu.
Nguồn truyền thuyết thần thoại cũng phản ánh lịch sử nhưng là phản ánh lịch sử qua tư duy thần thoại và được phổ biến bằng phương thức truyền miệng, do đó chỉ có thể coi là hồi quang lịch sử, là tư liệu tham khảo có điều hóa và mỹ hóa các nhân vật cũng như các sự kiện. Nguồn tư liệu văn bản chủ yếu để các nhà soạn sử thời phong kiến cũng như các nhà nghiên cứu lịch sử hiện nay dựa vào là các ngọc phả, thần tích chép về các Vua Hùng và các nhân vật thời Hùng Vương. Văn bản chép về các Vua Hùng được gọi là ngọc phả, còn các văn bản chép về các nhân vật khác như Tản Viên sơn thánh, Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Tiên Dung v.v…và các Lạc hầu Lạc tướng được gọi là thần tích. Các văn bản này được soạn bằng Hán văn. Vào khoảng đầu thế kỷ này, nhiều ngọc phả và thần tích đã được dịch sang chữ quốc ngữ.
Những ngọc phả chính được biết là các văn bản sau:
1- “Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền”, còn gọi là Cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyền, soạn năm Thiên Phúc nguyên niên (986 – Lê Đại Hành), bản sao vào triều Khải Định năm thứ 4 (1919), Kỷ Mùi, tháng 6, ngày 25.
2 – Hùng Vương ngọc phả thập bát thế truyền, soạn năm Hồng Đức nguyên niên (1470 – Lê Thánh Tông): ” Hồng Đức nguyên niên, Nhâm Thìn xuân tam nguyệt cốc đán, Hàn lâm viện Trực học sĩ Nguyên Cố phụng soạn”, năm Hoằng Đình nguyên niên (1619- Lê Kính Tông) sao lại: Hoàng triều Hoằng Định Nguyên niên, Cánh tý đông thập nguyệt cát nhật, Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng trùng đính, Lễ phiên Lê Đình Hoan thừa sao”.
3 – Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền, Hàn lâm học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572 – Lê Anh Tông).
Như vậy bản ngọc phả soạn năm Thiên phúc nguyên niên (986) là bản cổ nhất và có lẽ cũng là bản ngọc phả đầu tiên mà sự tích các Vua Hùng được soạn thành văn bản. Bản thứ 2 là bản Hồng Đức nguyên niên (1470) và bản thứ 3 là Hồng Phúc nguyên niên (1572). Đây có thể coi là 3 bản ngọc phả chính để tìm hiểu về thời đại Hùng Vương, ngoài ra còn phải tham khảo thần tích các nhân vật thời Hùng trong đó quan trọng hơn cả là các thần tích Tản Viên sơn thánh.
Trong thời gian từ 1968 đến 1971, khi về các xã sưu tầm truyền thuyết Hùng Vương, khi hỏi đến các ngọc phả và thần tích, chúng tôi được các cụ từ 70 tuổi trở lên cho biết: Bằng Đắng là nơi còn lưu giữ nhiều bản của loại thư tịch đặc biệt này. Bằng Đắng thuộc xã Bình Đảng, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đái trấn Sơn Tây thời Nguyễn: thời Pháp thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên; nay là thôn Cao Bình xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường(Vĩnh Phú). Xưa kia, xã nào thiếu mất thần tích thường đến Bằng Đắng để xim sao chép.
Gần đây tôi được đọc Tạp chí Hán Nôm (Viện Hán Nôm thì thấy có bài của ông Nguyễn Hữu Mùi (Số 1 và 3 – 1995) và ông Hoàng Lê (số 3 – 1995) có bàn về vấn đề thần tích ở Bằng Đắng, càng chứng tỏ rằng lời các cụ nói với chúng tôi trước đây là có cơ sở. Nay ở Bằng Đắng không còn giữ được các thần tích này nữa mà đã chuyển về Đền Hùng, nên hiện nay ngọc phả Hùng Vương và các thần tích triều Hùng hiện được cất giữ ở Nhà bảo tàng Hùng Vương (Đền Hùng) và Nhà bảo tàng tỉnh Vĩnh Phú, phần lớn là có sự đóng góp của các bản ở Bằng Đắng nói trên.
Bản Thiên phúc có một giá tri đặc biệt vì đã cung cấp những tư liệu giúp giải mã những nghi vấn khi tìm hiểu về thời kỳ lịch sử Hùng Vương, đó là triều đại nhà Hùng kéo dài 2650 năm mà lại được truyền kể và cả ghi chép trong nhiều tư liệu thành văn là 18 đời vua. Bản Thiên Phúc chép là 18 chi,”thập bát diệp” và chép về từng chi theo thứ tự ngôi xin dẫn 1 chi cuối như dưới đây:
Hùng Duệ Vương húy là Huệ Đức Lang, làm vua 115 năm thọ 227 tuổi, mệnh Canh Thân, sinh ngày mồng 3 tháng 3, mất ngày 5 tháng5, hóa sinh cùng với rể hiền là đức thánh Tản Viên Sơn cùng ban ngày lên thượng điện trời thành tiên hóa sinh bất diệt, tung tích muôn đời làm thánh vương. Thiên Vương rất thiêng, đứng đầu thượng đẳng bách thần, truyền 4 người con, trước truyền ngôi cho con trưởng là Kính Vương, trị vì được 6 năm trị vì. Kính Vương mất, sau truyền ngôi cho con thứ là Cảnh Lang trị nước được 10 năm thì mất, sau lại truyền cháu hiền ở ngôi đước 3 năm lại mất. Duệ Vương lại truyền ngôi cho rể hiền là đức Tản Viên lên cầm quyền chính giữ ngôi vua thay mệnh vua cha cầm quyền chế tác, bình trị thiên hạ trong khoảng 10 năm”. Như vậy, mọt đời Hùng Duệ Vương đã có 5 đời vua đề là Hùng Duệ.
Về việc nhường ngôi báu cho Thục An Dương Vương, ngọc phả chép cũng vào đoạn văn trên: “Cha con cùng lòng mong muốn thành thượng tiên, hiểu biết đạo pháp thần thông hưởng thiên tiên muôn đời bất diệt, bèn nhường ngôi cho Thục Dương Vương là hoàng tôn dòng Hùng Vương, trước kia là tông phái của Hoàng đế và là cháu thứ 19 của bộ chủ phụ đạo vậy”.
Đoạn kết tóm lại: “Dĩ thượng Hùng đồ thập bát diệp, tỉ phù truyền ư thái bảo, nhất bách thập bát đại đế vương tốn vị nhất thống sơn hà” (18 nhành nhà Hùng, ngọc tỉ và ấn tín truyền quyền đại bảo trong khoảng 180 đợt nhường ngôi đế vương một mối non sông, xa thư trị nước). Tiếp theo là những dòng cuối: “Phàm thánh vương 18 đời…”. Như vậy “đời” đây không phải là một đời vua (một người ở ngôi vua) mà là 18 triều vua nối tiếp nhau, mỗi triều có nhiều vua, vì nhà Hùng mỗi chi hay nhành là một triều đại, mà mỗi triều đại chỉ lấy một vương hiệu, nên nói “Hùng đồ thập bát diệp” rồi nói “thập bát thế”.
Về vấn đè 18 đời Hùng Vương tôi đã dựa trên bản Thiên Phúc để phát biểu ý kiến in trên báo Giáo dục và thời đại số 14 (1-4-1995) với tựa đề “Góp bàn về 18 đời Hùng Vương”.
Bản Hồng Phúc cũng chép việc Kinh Dương Vương lập đô ở Hoan Châu rồi tìm về Nghĩa Lĩnh – Bạch Hạc dựng đô chính thức cho nước Văn Lang v.v…, giá trị của bản Hồng Phúc là có nhiều nội dung chép suốt từ Kinh Dương Vương tới 18 triều nhà Hùng, sự tích Sơn Tinh – Thủy Tinh tranh hôn, cuộc chiến tranh Hùng Thục, cho tới Triệu Đà cướp Âu Lạc, và đến cả thời kỳ Hai Bà Trưng khởi nghĩa lật đổ ách thống trị nhà Đông Hán.
Giáo sư Bùi Văn Nguyên đã dựa vào thư tịch ngọc phả để viết bài nghiên cứu: “Tiến trình xây dựng địa bàn Tổ quốc từ xa xưa qua một số truyền thuyết và thư tịch thời Hùng Vương” (Tập san Đại học Sư phàm, số 2-1974) nói lên quá trình kiến lập kinh đô Văn Lang từ 99 ngọn Hồng Lĩnh tới Nghĩa Lĩnh, cũng như bước phát triển lịch sử thời Hùng Vương.
Nghiên cứu về thời kỳ lịch sử Hùng Vương qua ngọc phả và thần tích có 2 vấn đề cần bàn trong sử dụng, giới thiệu và xử lý tư lệu, đó là tính hoang đường kỳ ảo của các sự kiện và nhân vật và yếu tố ngoại lai của nguồn gốc triều nhà Hùng.
Về tính hoang đường của các ngọc phả, thần tích cũng không có gì là khó hiểu vì đây là “thần tích”, là sự tích về “thần” mà đã là thần là phải có tính thiêng điềm lạ cùng những yếu tố kỳ ảo. Các nhân vật lịch sử được thờ ở đình miếu đều ít nhiều được thần hóa cũng như các thần là lực lượng tự nhiên được lịch sử hóa, đó là đặc điểm tín ngưỡng và là sáng tạo hình tượng theo tư duy thần thoại của nhân dân. Đối với các nhà nghiên cứu, ở đây không có vấn đề phải bàn, nhưng khi công bố một bản thần tích ra với đông đảo bạn đọc phổ thông, cần thận trọng có những lời bình chú để lường trước phản ứng: cho là đưa ra những chuyện mê tín dị đoan, đi đôi với sự hạ thấp nhân vật lịch sử vì dễ tạo sự nghi ngờ với những hư cấu khó được chấp nhận.Một điển hình loại này là bản ngọc phả Hồng Đức với sự xuất hiện của tứ vị thiên vương cho 100 trứng, bát bộ Kim Cương mang sắc lệnh của phật cho 100 con trai, tiên ông mang mũ nhà Phật đặt tên v.v..
Một vấn đề cũng cần được cân nhắc khi giới thiệu ngọc phả, thần tích về triều Hùng dó là phần mở đầu với câu chuyện Viêm Đế Thần Nông cho con trưởng Đế Nghi nối ngôi cai trị phương Bắc là Trung Quốc. Còn Lộc Tục là em cai trị phương Nam, động Xích Quỷ – tức Giao Chỉ. Cái nguồn gốc này được chép ở nhiều ngọc phả, thần tích đã gây không ít phân vân và tranh cãi.
Trong những trường hợp này, chúng ta nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
Theo chúng tôi, trước hết về nguyên tắc, văn bản ngọc phả, thần tích phải được sao chép đúng nguyên tác, nguyên bản không được sửa, được lược, được viết sai từ để gìn giữ ở cac cơ quan chức năng và để phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu nhưng khi giới thiệu trên các sách báo cần nhìn nhận đối tượng bạn đọc. Nếu là đông đảo bạn đọc phổ thông, là học sinh trung học, là những người không có yêu cầu nghiên cứu v.v. thì cần xử lý tư liệu theo 2 cách: một là in cả phần nguồn gốc này nhưng phải có lời diễn giải của người sưu tầm hay người biên tập, hai là lược bỏ nguyên đoạn chứ không lược nửa vời và cũng nhất thiết phải có lời Ban biên tập cho biết có lược hay tạm lược với lý do (1) v.v.
Chú thích:
1. Niên đại các bản Thần tích, Ngọc phả là một vấn đề còn phải nghiên cứu thêm. Tác giả tham luận chưa nói rõ nơi tàng trữ văn bản cũng như xuất xứ các bản dịch. Chúng tôi tạm bằng lòng với tham luận hiện có (B.B.T)
Thông báo Hán Nôm học 1995 ( tr.461-467)
Nguyễn Khắc Xương

*

PHÁT HIỆN BẢN NGỌC PHẢ CỔ NHẤTphat-hien-nam-viet-hung-vuong-ngoc-pha-co-nhat11425440742
Việc tìm ra Nam Việt Hùng vương ngọc phả vĩnh truyền được viết từ thời Tiền Lê tại đền Vân Luông (thuộc xã Vân Phù) nằm trong khu di tích Đền Hùng đã khẳng định lại một lần nữa thân thế sự nghiệp của 18 chi đế vương được người đời kính trọng và tôn thờ.

Điều đáng tiếc là nhóm phóng viên Health+ đã không được tận mắt nhìn thấy ngọc phả viết trên giấy gió được cất giữ trong ngồi đền cổ. “Từ ngày biết được giá trị của những “tờ giấy” gió gập đôi, chữ viết hai mặt trước sau vốn được cất giữ cẩn trọng tại nơi trang trọng nhất của đền, chính quyền địa phương và ông từ của đền càng thận trọng hơn trong việc nói đến ngọc phả hơn 1.000 năm tuổi này”, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài – người có công lớn trong việc tìm kiếm, dịch cũng như sắp xếp lại các trang ngọc phả nguyên bản – cho biết.
Ngọc phả cổ nhất Việt Nam
Nội dung ngọc phả nói về họ Hồng Bàng (họ vua Hùng), sử ký Việt Nam, ghi chép danh vị các vị vua Hùng được thờ cúng, trong đó viết từ chi đầu đến chi cuối, theo thứ tự. Mỗi vị vua có tên thường gọi, tên húy, tên thụy, tên mỹ tự truy phong, ngày sinh, ngày mất, số năm trị vì, tuổi thọ, vợ con, cháu chắt…
“Nam Việt Hùng vương ngọc phả vĩnh truyền miêu duệ tôn điệt ức vạn niên hương hỏa tự điển truy sùng” là tên chính thức của Ngọc phả viết bằng chữ Hán được tìm thấy tại đền Vân Luông Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài, từ những thông tin trên ngọc phả cho thấy, bản ngọc phả Hùng Vương này được viết vào năm Thiên Phúc đầu tiên, tháng Giêng, ngày 25 thuộc thời vua Lê Đại Hành (dương lịch là năm 980, cách đây 1035 năm). Đây là bản ngọc phả cổ nhất về thờ cúng Hùng Vương.
“Bản Ngọc phả đã ghi rõ 18 chi Hùng Vương, liên quan trực tiếp đến bài vị giúp ta biết Vua Hùng nào là thần chủ trong đền, miếu thờ để xin ngài phù hộ cho cuộc sống”, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài cho biết.
Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, trong đó có Giáo sư Vũ Khiêu, giá trị của ngọc phả Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền là di sản văn hóa phi vật thể vô cùng độc đáo thắp sáng tình cảm và nhận thức tổ tiên rực rỡ, hùng cường, khẳng định “Nam quốc sơn hà nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên tư”, làm sâu sắc và phung phú tín ngưỡng thờ cúng Hùng vương là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngọc phả thờ cúng Hùng Vương ra đời trong thời kỳ vận nước “đổi gió”. Năm 980, sau hơn 1.000 năm đô hộ Bắc thuộc, nước ta giành được độc lập với sự lên ngôi hoàng đế của Đinh Tiên Hoàng. Năm Thiên Phúc đầu tiên, Lê Đại Hành cho viết Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền, chỉ ra 18 đời Vua Hùng đã làm bừng lên trong tâm thức người Việt các thời đại sự tự hào dân tộc, về nền độc lập dân tộc của nước nhà. Tâm thức ấy trải mãi theo dòng lịch sự, như tiếp sức cho mọi thế hệ dân tộc chống lại quân xâm lược. Cũng tâm thức ấy, việc nước Nam Việt hoàn toàn độc lập là lẽ tự nhiên của đất trời, của tạo hóa, như muôn quy luật của tự nhiên vậy.
Khác với những bản ngọc phả được tìm thấy và lưu truyền trước đó, Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền là bản ngọc phả dành cho việc thờ cúng nên ghi chép danh vị (tên thường gọi, tên húy, tên thụy và tên mỹ tự truy phong) từng chi, chỉ nêu người vua đầu tiên. Bản ngọc phả này góp phần làm sáng tỏ lịch sử cội nguồn. Trước đó, nhiều thế hệ tưởng rằng, 18 đời Vua Hùng bao gồm cả Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân. Nhưng thực tế, Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền cho thấy, 18 đời Vua Hùng không bao gồm Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, mà chỉ tính từ Hùng Quốc Vương (Cấn chi, người con đầu của Lạc Long Quân và Âu Cơ).
Núi Nghĩa Lĩnh và một góc “nhìn” mới
Cùng với nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài, chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình “thăm lại” Đền Hùng. Về bố cục kiến trúc đền chùa trên núi Nghĩa Lĩnh theo lối Tiền Phật hậu Thánh. Thánh ở địa hình cao nhất và được phân nền cấp khác nhau: Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, đều có bài vị thờ.
Đền Trung hay còn gọi là “Hùng Vương Tổ miếu” – là nơi phát tích đầu tiên có 3 ngai thờ có bài vị. Ngai giữa bài vị ghi: “Đột ngột cao sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương vị”. Trước đó, nhiều người cho rằng, đó là thờ 18 đời Vua Hùng. Nhưng khi đối chiếu lại với Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền thì bài vị đó thờ Hùng Quốc Vương – vị Vua đầu tiên của nước Văn Lang, con trai trưởng của Lạc Long Quân, người anh cả của bọc trăm trứng. Ngai bên trái ghi “Viễn Sơn thánh vương vị” là thờ Hùng Nghi Vương, con trai trưởng của Hùng Quốc Vương. Ngai bên phải ghi “Ất Sơn thánh vương vị” thờ Hùng Huy Vương – con trai trưởng của Hùng Nghi Vương. “Nếu không có ngọc phả cổ này, có lẽ, chúng ta sẽ còn chưa chấm dứt được sự nhầm lẫn kéo dài trong việc cúng tế các thánh vương ở Đền Trung. Nói tâm linh một chút thì nếu không “kêu đúng tên, cầu đúng người” thì chưa chắc các ngài đã về nhận lễ mà chứng cho vậy”, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài nói.
Tương tự Đền Trung, cấu trúc thờ tự Đền Thượng có 4 ngai, 3 ngai có bài vị xếp hàng chữ nhất ở vị trí cao, hướng về phía Nam, trong đó có ngai giữa có 34 chữ mỹ tự: “Đột ngột cao sơn hiển hùng ngao thống thủy hoằng tế chiếu liệt ứng thuận phả hộ thần minh thọ quyết ứng quảng huệ y diễn vệ hàm công Thánh vương vị”. Ngai bên trái và bên phải có 5 chữ mỹ tự: “Viễn Sơn Thánh vương vị”, “Ất sơn thánh vương vị”. Đây là tục thờ thần núi (Thiên thần) và thờ Hùng vương (Nhân thần). Đó là 3 quả núi: Núi Hùng, núi Văn, núi Trọc mà nhân gian gọi là “Tam sơn cấm địa” và tam vị thánh vương, đứng đầu 18 đời Vua Hùng: Hùng Quốc vương, Hùng Nghi vương – con vua Hùng, Hùng Huy Vương – cháu vua Hùng. Chính vì vậy, trong đền có đại tự “Triệu cơ vương tích” – dấu vết nền móng của vua. Mặt trước đền có 4 chữ đại tự Nam Việt triệu tổ – Tổ mở đầu nước Nam.
Ngai thứ 4 nhỏ hơn, không bài vị, bố trí thấp hơn ngai trên, tọa ở góc hướng Đông Nam, hướng tới nơi hội tụ nguồn nước ngã ba sông – tụ thủy như tụ nhân, là tụ phúc, làm ăn thịnh vượng – là bàn thờ Mẫu, nhưng là mẫu chung thời nguyên thủy thị tộc, gắn với chế độ mẫu quyền. Sự dung hợp tuyệt vời thờ thần núi gắn liền với thờ Mẫu và thờ người có công dựng nước đã thiêng liêng hóa Vua Hùng và người mẹ qua thần linh. Sự thiêng liêng hóa ấy với mục đích cuối cùng là nêu cao đạo lý uống nước nhớ nguồn, là nền tảng của đạo đức và tín ngưỡng Việt Nam, sự dung hợp tài tình ấy, mỗi khi thắp hương trước bàn thờ Tổ cả nước như ta nghe thấy tiếng đồng vọng kỳ lạ của quá khứ sáng trong tim niềm tin thiêng liêng cao cả.
Hùng Vương lăng nằm ở phía trái Đền Thượng, nhìn ra ngã ba sông, được cho là mộ của vua Hùng đời thứ 6. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài, Hùng Vương Lăng chỉ là một biểu tượng và là nơi thờ chung cho tam vị thánh vương đứng đầu của 18 đời Vua Hùng.
Cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài, nhiều năm trước, trong thời gian trùng tu Hùng Vương lăng, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một đôi cột đá đẹp, cao 1m2 với nhiều ký tự và chữ viết được đặt trước lăng. Mất nhiều năm nghiên cứu, cộng với những phát hiện mới về những đôi cột đá tương tự như vậy ở các khu thờ tự khác, ông mới phát hiện ra đó là hoa biểu – hay còn gọi là dấu tích của vua. Chỉ có những khu mộ dành cho vua hoặc cho những người trong hoàng tộc mới được đặt đôi hoa biểu này. Những văn tự ghi trên đó thế nào không rõ, nhưng hiện nay, đôi hoa biểu của Hùng Vương lăng được đặt chìm, chỉ hở ra đôi hàng chữ ghi khắc năm trùng tu thời Nguyễn.
Kết
Sau chuyến “thăm” Đền Hùng với nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài, chúng tôi còn dành một buổi thăm toàn thể khu di tích Đền Hùng với Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân dưới chân núi Sim (Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên là năm khởi công xây dựng đền thờ, đỉnh núi Sim phát lộ một đầu rồng hướng lên trời xanh, khiến không ít người tin rằng, nó thể hiện sự thương nhớ, hướng vọng về nơi đất mẹ, nơi Mẹ Âu Cơ cùng 50 người con trai sinh sống), Đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ trên đỉnh Ốc Sơn (Tượng Mẫu hướng về ngã ba sông, nhìn bao quát khắp trăm miền như mắt mẹ hướng về muôn người con phương xa để chăm sóc, bao bọc, trở che…) và tam đền Hạ, Trung, Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh với những câu chuyện kể muôn đời tượng trưng cho sức mạnh ngàn đời của toàn dân tộc. Câu chuyện của người hướng dẫn viên có khác, nhưng vẫn hàm chứa nhiều ý nghĩa của nơi chốn linh thiêng.
Chợt nghĩ, chuyện về vua cha, mẫu mẹ và những người con trên khắp miền tổ quốc, dù theo cách giải nghĩa nào, vẫn là những tranh luận khó có lời giải chính xác. Điều quan trọng, đó là chốn thiêng, những di sản văn hóa, là mạch quốc thống, là niềm tự hào, lòng yêu nước đời đời cho con cháu noi theo.
Nguồn: Health+ (Nhóm phóng viên Health+)
*
NGỌC PHẢ ĐỀN BÌNH NGÔ Ở THUẬN THÀNH BẮC NINH
Tại một ngôi đền ở Bắc Ninh, hiện có cuốn ngọc phả ẩn chứa nhiều thông tin mới về tổ tiên ta trong thời đại Hùng Vương. Tác giả Phạm Thuận Thành là người địa phương đã dịch và giới thiệu cuốn ngọc phả này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và mong nhận được ý kiến của các học giả, nhà nghiên cứu, bạn đọc bổ sung, làm rõ vấn đề này…
Đền Bình Ngô (An Bình, Thuận Thành, Bắc Ninh) thờ 18 đời Hùng Vương là di tích quan trọng đã được xếp hạng quốc gia. Bản ngọc phả (thần phả, thần tích) dài 5.412 chữ Hán do Dưỡng Trai Nguyễn Tá Chính soạn thời Tự Đức còn truyền lại đến ngày nay. Nội dung bản Ngọc phả Bình Ngô này có nhiều thông tin mới về thời Hùng Vương, thời kỳ nhà sử học Ngô Sĩ Liên phụng mệnh vua Lê Thánh Tông soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư đã đưa dã sử vào phần Ngoại kỷ để lịch sử dân tộc thống nhất, liên tục từ thời cổ đến thời Lê (khi soạn sách, gọi là Bản kỷ). Về người soạn ngọc phả, Dưỡng Trai Nguyễn Tá Chính là nhà khoa bảng danh tiếng, đỗ Hoàng giáp khoa thi 1844 thời Thiệu Trị, làm quan đốc học Hải Dương. Ngoài bản Ngọc phả Bình Ngô, ông còn lại tác phẩm là Văn bia chùa Trấn Quốc bên bờ Hồ Tây (Hà Nội). Ông người làng Bình Ngô, là người đức độ, quan tâm đến văn hóa phong tục quê hương, còn được dân truyền tụng nhiều câu chuyện đẹp về lối hành xử lễ nghĩa. Ông còn con cháu ở quê Bình Ngô và học hành thành đạt. Về lý do Hùng Vương định đô ở núi Nghĩa Lĩnh (Phong Châu) là do chọn được đất có phong thủy đẹp, thế đại dài lâu: Dãy Tam Đảo là tả thanh long; dãy Tản Viên là hữu bạch hổ; sông Bạch Hạc là nội minh đường; sông lớn huyện Nam Xương là trung minh đường; Biển Đông là ngoại minh đường. Về thứ đại Hùng Vương 18 thì đời Kinh Dương Vương là Hùng Vương thứ nhất, người định đô ở Nghĩa Lĩnh, lập nước Văn Lang; Lạc Long Quân là Hùng Vương thứ hai; Hùng Duệ Vương là Hùng Vương thứ 18. Các đời Hùng Vương đều có miếu hiệu theo nghi thức hoàng đế. Kinh Dương Vương miếu hiệu là Hùng Dương Vương cao hoàng thái tổ đại bảo đức tôn hoàng đế. Lạc Long Quân là Hùng Hiền Vương, miếu hiệu là Cao hoàng thái tổ quang hưng hoàng đế. Hùng Duệ Vương miếu hiệu là Thiên tôn minh vương hoàng đế. Về bào thai trăm trứng nở ra trăm con trai của Lạc Long Quân và Âu Cơ do có thần tiên đến giúp đặt tên con và phân thứ bậc. Con trưởng được lập làm thái tử, sau kế vị là Hùng Quốc Vương, miếu hiệu là Thượng kim cao tôn quang triều hoàng đế. Các con thứ có tên gọi và thứ bậc rõ ràng. Một trăm con trai Lạc Long Quân do đó không phải là tổ của Bách Việt vì khi Kinh Dương Vương lập nước đã có dân sẵn rồi, và có dân thì mới có vua, chẳng lẽ làm vua một mình. Làm vua thì có triều đình riêng, có quan văn võ. Trong số họ không phải ai cũng là hoàng tử con vua, mà là người được tuyển lựa từ dân lên giúp việc vua. Và do đó Kinh Dương Vương cũng không phải là thủy tổ Bách Việt mà chỉ là thủy tổ các Hùng Vương thôi. Một trăm con trai tên gọi đều có chữ Lang ở sau, như Quỳnh Lang, Hoàng Lang, Thái Lang… Con trưởng kế vị ở kinh đô, con thứ được phân đất ở các địa phương (50 con về miền biển, 50 con về miền núi). Đây là mô hình phân phong sơ khai giống như Nhà Chu ở phương Bắc. Về hai công chúa của Hùng Duệ Vương có tên gọi là Mỵ Châu Tiên Dung và Mỵ Nương Ngọc Hoa. Như vậy Mỵ Châu là có ý chỉ công chúa trưởng, Mỵ Nương có ý chỉ công chúa thứ. Do đó Mỵ Châu không phải là tên gọi chính của công chúa con vua An Dương Vương. Nhưng có thể vua An Dương Vương chỉ có một công chúa nên chỉ có Mỵ Châu, không có Mỵ Nương và gọi Mỵ Châu là đủ phân biệt ngôi thứ rồi. Về nỏ thần không phải bắt đầu từ An Dương Vương, mà hai bảo khí kiếm thần, nỏ thần trấn quốc có từ thời Hùng Duệ Vương. Thục Vương khi chiếm giữ đạo Ai Lao đã nhiều lần đem quân đánh Duệ Vương nhưng đều thất bại vì hai bảo khí này của Duệ Vương. Sau khi gả Mỵ Nương cho Sơn Tinh, Duệ Vương đã già, được Sơn Tinh báo vận số họ Hùng đã hết và khuyên nên nhường ngôi cho Thục Vương rồi cùng đi tu tiên bất sinh bất diệt. Duệ Vương bằng lòng nhường nước và truyền lại hai bảo khí kiếm thần, nỏ thần cho Thục Vương. Thục Vương cảm động đến Nghĩa Lĩnh lập hòn đá thề giữ nước và thờ cúng họ Hùng như là thái tử kế vị của Hùng Vương. Nỏ thần là bảo khí trấn quốc nên khi bị Trọng Thủy phá hỏng thì An Dương Vương đã mất nước. Như vậy, ngay từ thời phong kiến đã có học giả có cách nhận định khác lạ về thời Hùng Vương, đặc biệt là thống nhất 18 đời Hùng Vương khởi từ Kinh Dương Vương đến Hùng Duệ Vương. Chi tiết nỏ thần do Duệ Vương truyền cho Thục Vương, đồng nghĩa là truyền nước cho cũng rất mới mẻ. Bản Ngọc phả Bình Ngô đã được nhà nho Lý Thanh phiên âm và dịch ra quốc ngữ, hiện do Ban quản lý di tích đền Bình Ngô quản lý. Đây thực là một tư liệu Hán Nôm quý hiếm và độc đáo cần được khai thác tốt hơn.
Phạm Thuận Thành

*

HÙNG VƯƠNG KIM NGỌC PHẢ

Trong quá trình tìm hiểu Ngọc phả Hùng Vương, tôi tìm thấy trên mạng bản Ngọc phả này, được dịch từ năm 1974 nhưng mới được đưa lên mạng LUUTOC.VN , nay xin giới thiệu thêm.

PDK
(LUUTOC.VN) – Trong dịp khảo sát họ Lưu vùng Cố đô Phong Châu – Việt Trì, Phú Thọ, Đoàn nghiên cứu Họ Lưu Việt Nam đã thu nhận được bản “Hùng Vương Kim Ngọc bảo dám thực thục” do Cụ Lê Đức Đỗng, nguyên Chủ tịch UBKCHC xã Lâu Thượng (huyện Hạc Trì, nay là TP Việt Trì) tỉnh Phú Thọ sưu tầm và dịch xong 13/7/1974)[1]. BBT LUUTOC.VN trân trọng giới thiệu tới quý đồng tộc Họ Lưu, vì bản này nhiều năm đã được giới thiệu tại BQL Di tích Đền Hùng và còn có nhiều dữ liệu, cần được xem xét kỹ hơn, như Phật giáo xuất hiện tại Việt Nam từ thời Hùng Vương thứ 7, Thục Phán có mưu đồ chiếm nước Văn Lang từ thời Hùng Vương thứ 17, thành Cổ Loa được xây và nỏ thần Cao Lỗ được chế tạo từ thời Hùng Vương thứ 18…
LỜI NÓI ĐẦU[2]

Đây là cuốn Hùng Vương Ngọc phả của thôn Cá Đô, xã An Đạo, huyện Phù Ninh do vị Lý trưởng xã ấy tên là Hoàng Văn Nhị phụng lĩnh chính bản ở Huyện về thừa sao. Vị Tú tài lĩnh bang biện huyện là Nguyễn Đình Phụng khảo, vị Sỹ nhân là ông Hoàng Văn Chứ phụng tả vào ngày Tốt, tháng Mạnh Thu, năm Ất Dậu, niên hiệu Hàm Nghi năm đầu, triều đại nhà Nguyễn.

Tác giả của bản Ngọc phả này là quan Hàn lâm Học sỹ Sung Quốc Tử Giám Nguyễn Đình Chấn, Ban giám khảo bản Ngọc phả này là ông Lễ bộ Tả Thị lang – thần Phạm Quỹ, Hình bộ Tả thị lang- thần Nguyễn Hanh, Binh bộ Tả thị lang – thần Trương Quốc Hoa, Binh bộ Hữu thị lang- thần Phạm Quĩ, Hình bộ Tả thị lang – thần Vũ Hồn, Quang lộc tự khanh Biện lý Lễ bộ sự vụ Lê Thiện, Hồng Lô tự kiêm Biện lý hộ, Bộ sự vụ – thần Mai Đức Thường, Lễ bộ lang Trung biên, Lý bộ vụ – thần Nguyễn Đức Tân. Quyển Ngọc phả này gồm 12 chương.
Chương I: Nói về căn nguyên họ Hồng Bàng.
Chương II: Nói về sử ký nước Việt Nam (trong chương này kể về 18 đời Vua Hùng, mỗi đời húy hiệu nhà vua và thị phi, hoàng tử, công chúa, thời gian vua trị vì, mồ mả v.v.
Đặc biệt, trong chương này đã nói đến lễ giáo, chính trị, văn hóa, thuế khóa, binh lính thời đó như thế nào. Trong đời vua nào có giặc ngoại xâm cũng được ghi rõ.
Chương III: Nói về 3 ngôi đền thờ trên núi Hùng Vương
Đền Thượng thờ những vị nào
Đền Trung thờ những vị nào
Đền Hạ thờ những vị nào
(Các chương 1, 2, 3 ghi năm Thiên Phúc nguyên niên, tháng Giêng ngày 25 thuộc thời đại Lê Đại Hành ghi chép lưu lại).

Chương IV: Nói về tôn lăng các vua nhà Hùng táng ở nơi nào và những đâu phụng sự, kể sự cầu đảo thiên địa thần kỳ theo truyền thuyết duy thần hư hay thực, phần nào đã có khoa học nghiên cứu. Cứ theo Ngọc phả mà dịch cho có liên tục.
Chương V: Nói về các vua nhà Hùng du lịch ở các nơi trong nước mà quan sát hình thế phong thủy.
Chương VI: Nói về một bọc 100 trứng sinh ra 100 con trai sinh trưởng thế nào, đặt tên 100 con trai, phân chia chấn tự những đâu.
Chương VII: Nói về sự tích Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân khi thành công rồi đi đâu.
Chương VIII: Nói về đời vua nào có ai cho vuốt rồng và ngọc thiên bảo để làm ấn kiếm.
Chương IX: Nói về Sơn Tinh và Thủy Tinh thi tài diễn võ dương oai để lấy Mị Nương công chúa con gái vua Hùng Vương đời thứ 18.
Chương X: Nói về Kim Quy tuốt móng chế làm lẫy nỏ.
Chương XI: Nói về đời cuối nhà Hùng nhường nước cho Thục Phán.
Chương XII: Nói về nguyên thủy từ Trung quốc truyền sang Việt Nam liên tục thế nào. Sáng lập pháp chế ảnh hưởng đối với nhân dân, quan hệ thế nào.
Đây là bản dịch từ bản chữ Hán, chắc chắn bản dịch này cũng còn nhiều thiếu sót, song đây há chẳng phải là một sự đóng góp tích cực vào việc tìm hiểu Tổ tiên ta đó sao.

(Toàn văn bản dịch Hùng Vương kim Ngọc phả chúng tôi sẽ đăng trong bài tiếp sau)

 

 

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Lời giới thiệu của GS Ngô Đức Thọ về văn bản và bản dịch Ngoc phả Hùng Vương Thêm một bản Ngọc phả mới phát hiện: Hùng Vương kim Ngọc phả

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Mười 2015
M T W T F S S
« Sep   Nov »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: