Lời giới thiệu của GS Ngô Đức Thọ về văn bản và bản dịch Ngoc phả Hùng Vương

Tháng Mười 25, 2015 at 5:22 sáng Để lại bình luận

LỜI GIỚI THIỆU CỦA GS NGÔ ĐỨC THỌ VỀ VĂN BẢN VÀ BẢN DỊCH NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG
anhGSNDTTừ khoảng những năm 60 của thế ký trước, giới khoa học nước ta đã cố gắng nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là về khảo cổ học để đưa những truyền thuyết về thời Hùng vương trở thành thời kỳ Hùng vương dựng nước.Tuy vậy, các tài liệu thư tịch cổ về thời kỳ này vốn đã rất hiếm mà chúng ta cũng chưa sưu tập công bố đầy đủ, ngay cả bản Hùng vương ngọc phả cũng chưa đựoc dịch toàn văn ( xem ý kiến nhận xét của Phan Duy Kha, trích dẫn ở đoạn sau ). Trong bài này tôi lần đầu tiên đã dịch toàn văn Hùng vương ngọc phả và Giới thiệu văn bản gốc Hùng vương ngọc phả hiện lưu ở Bảo tàng Hùng vương Phú Thọ.

I. THƯ GỬI PHAN DUY KHA
Cám ơn Tac gia Phan Duy Kha, sự lưu ý của anh thăm xem bài tôi và gửi cho nhận xét chân thành như vậy là rất quý, bằng cả thang thuốc bổ để uống cho đỡ mệt mỏi mà làm việc. Anh cũng rõ là tôi để công khai bài này để “ngộ nhỡ” có ai quan tâm theo dõi thì họ có thể tham khảo dẫn dụng. Tôi cũng lường trước rằng lâu nay giới nghiên cứu của ta bàn nói rất vĩ mô về thời Hùng vương, nhưng có thể không ít người chưa bao giờ đọc cho trọn vẹn bản phả dân tộc này (có ai dịch cho đủ đâu mà đọc). Vì thế, một cách phi lợi nhuận tôi đã bỏ một ít công để làm xong (và công bố) văn bản quý đó. (Hiện tôi còn viết bài nghiên cứu giới thiệu văn bản và nội dung tác phẩm. Bài này phải “lai rai”dài dài ngày, có lẽ không nhanh đựoc). Như việc tôi đã làm đó có lẽ mọi người có thể thấy mục đích vì học thuật, nhưng hiện tôi chỉ mới có 02 bản Ngọc phả mà thôi. Tôi có một đề nghị là quý độc giả ai hiện có văn bản Ngọc phả có thể gửi bằng ảnh, hoặc bằng bản photo cho tôi để tôi tập hợp khảo cứu rồi công bố cả trên mạng cho người nghiên cứu tham khảo sử dụng. Như thế có ích cho học thuật. Trang nhà của anh có đăng bài của tôi, nếu anh giúp ghi cho mấy lời kính nhắn tin như vậy với độc giả thì rất tốt. Email và địa chỉ của tôi hình như tôi đã gửi báo với anh ở thư trước.

Chúc vui mạnh,

Ngô Đức Thọ
TB:
Có lẽ anh nên mất công chút đỉnh loát lại toàn bộ bài hiện có trên trang của tôi, vì rải rác tôi có sửa một số câu chữ (về tu từ), chỗ ý quan trọng (bôi vàng) tôi cũng đã giải quyết rồi, không vấn đè gì. Vậy nên anh nên loát lại bản dịch ở varian cuối cùng đó để tránh sai sót.

*
II. VĂN BẢN HÙNG VƯƠNG NGỌC PHẢanhso-164340_Cuu_do_Ngan_Hông_05
1. Đã lâu quá rồi, bây giờ đọc lại Hùng vương ngọc phả trong lòng tôi bỗng trào dâng một cảm xúc gì đó tựa như là ngỡ ngàng. Không phải chỉ mình tôi, các nhà nghiên cứu ở Viên Hán Nôm hẳn đều quen thuộc với các văn bản thần tích ngọc phả và các thư tịch cổ viêt về các đền chùa của nước ta. Riêng tôi cũng có một kỷ niệm là tôi đã cùng một vài bạn đồng nghiệp biên soạn đựoc một cuốn tra cứu về các di tích lịch sử văn hoá Việt Nam . Gian khổ nhưng cũng thật là vui vì có làm như vậy trong mấy năm đó chúng tôi mới có điều kiện đọc đi đọc lại nhiều sách vở tài liệu liên quan đến đề tài này. Không phải chỉ đối với một di tích, khi viết về một di tích sau lại  gặp lại tư liệu về di tích trước và trước đó nữa. Hùng vương ngọc phả là một tài liệu như vây. Vì HVNP rất quan trọng cho nên người soạn văn bia thần tích gia phả thường trích dẫn. Mà sự dẫn dụng đó phần nhiều là thích đáng hợp lý. Nếu nói gia phả là bộ sử của một nhà, một dòng họ, thì cuốn HVNP này quả thât là cuốn phả của cả dân tộc Việt Nam ta. Cái gì cũng có hai mặt: Ý nghĩa thì quan trọng như thế nhưng loại thần tích ngọc phả ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi những sự tích truyền thuyết hoang đường. Người mình bây giờ không phải không thích chuyện hoang đường, nhưng phải là cái gì thật lạ kỳ như Harry Potter chẳng hạn, còn chuyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh, chuyện Thánh Dóng đánh giặc  Ân v.v… thì từ thời tiểu học học mãi rồi! Cho nên dù là cuốn phả dân tộc thật đấy, nhưng có vẻ như là “kính nhi viễn chi”! Rốt cuộc là, từ hồi đầu thảo luận về thời Hùng vương những năm 70 thế kỷ trước đến nay sau hơn 40 năm, nhân một bài viết cần tìm đến HVNP, tra trên mạng không thấy một bản HVNP nào cả nguyên văn và bản dịch.Có thể có ai đó đã dịch và xuất bản gộp vào trong một tập nào đó với tên khác chăng? Cũng có thể như thế, nhưng tôi tin mình không lầm. Có một nhà nghiên cứu khá quen thạo đề tài này, tôi tuy chưa gặp mặt, nhưng đã có dịp có vài trao đổi ngắn với ông trên mạng. Tôi rất thú vị vì biết ông rât thú vị đối với việc tôi đang làm, đến mức bản dịch tôi thực hiện trên blog đựoc đoạn nào là ông tải ngay về trang của ông đoạn ấy. Hôm qua trước Noel mấy tiếng tôi làm xong bản dịch HVNP, sáng nay vào thăm trang của ông đã thấy ông loát đủ kèm theo một Comment nguyên văn như sau:

Ngọc phả Hùng Vương hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ. Ngọc phả gồm 21 tờ, 42 trang chữ Hán. Tổng cộng gần một vạn chữ. Sau hơn nửa tháng (từ ngày 9 – 24. 12. 2011) miệt mài, cần mẫn, GS Ngô Đức Thọ đã dịch xong. Trong khoảng thời gian đó, cứ mỗi lúc ông dịch xong đoạn nào, tôi lại tải về đăng lên mạng của tôi đoạn ấy. Tôi đã từng nhiều lần sưu tầm nhưng chưa có một bản dịch Ngọc phả nào cho hoàn thiện. Thường thì người ta dịch từng đoạn , ai cần đoạn nào phục vụ cho công tác nghiên cứu của mình thì dịch đoạn ấy. Đây là bản dịch đầy đủ nhất cho đến hiện nay mà tôi biết được. Một lần nữa, xin ghi công và cảm ơn GS Ngô Đức Thọ

                     (Phan Duy Kha- http://vn.360plus.yahoo.com/phan_duykha?l=f&id=1)

Người nghiên cứu đối với nhau, gửi cho những nhận xét chân thành đúng lúc như thế quả thật như cho nhau một thang thuốc bổ.

Đó là ông Phan Duy Kha xác minh cho tôi đựoc một điều: Bao nhiêu lâu rồi, thế mà chúng ta chưa có một công trình biên khảo nào về ngọc phả Hùng vương được công bố.

Bây giờ toi dã làm xong đựoc một việc nhỏ đó rồi, và ngay từ đầu tôi dã đưa lên mạng để mọi người ai cần tham khảo dẫn dụng thì có thể lưu lại. Con cháu của các vua Hùng thì phải chuyển cho nhau cuốn phả về sự nghiệp dựng nước của các cụ khi xưa.

Có điều là tôi hiện nay chỉ mới có đựoc 2 văn bản (một của Viện NCHN, một của TVQG), cũng vì việc chung cả, hẳn còn nhiều vị có các bản Hùng vương ngọc phả khác. Nếu quý vị vui lòng gửi cho tôi một bản copy (bằng giấy –qua Bưu điên, hoặc bằng ảnh qua email -Địa chỉ ghi ở dưới) để tôi tập hợp hiệu khảo, giới thiệu để mọi người cùng nghiên cứu thì rất tốt cho học thuật.

2.Văn bản Hùng vương ngọc phả:

Theo Nguyễn Khắc Xương hiện có 3 văn bản Hùng vương ngọc phả:

1-“Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền”, còn gọi là Cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyền, soạn năm Thiên Phúc nguyên niên (986 – Lê Đại Hành), bản sao vào triều Khải Định năm thứ 4 (1919), Kỷ Mùi, tháng 6, ngày 25.

2 -“Hùng Vương ngọc phả thập bát thế truyền, soạn năm Hồng Đức nguyên niên (1470 – Lê Thánh Tông): ” Hồng Đức nguyên niên, Nhâm Thìn xuân tam nguyệt cốc đán, Hàn lâm viện Trực học sĩ Nguyên Cố phụng soạn”, năm Hoằng Đình nguyên niên (1619- Lê Kính Tông) sao lại: Hoàng triều Hoằng Định Nguyên niên, Cánh tý đông thập nguyệt cát nhật, Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng trùng đính, Lễ phiên Lê Đình Hoan thừa sao”.

3 – Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền, Hàn lâm học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572 – Lê Anh Tông).

Về mấy thông tin nói trên, đối với văn bản thứ hai ông ghi không đúng nguyên văn tên của văn bản: Cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện.HaiÔng Xương chỉnh lại tên sách như thế phải chăng để cho hợp với cách đọc ” thế truyền“. Nhân thấy  thư tịch Hán Nôm của ta có một số cuốn chép thần tích truyền thuyết lấy tên sách là Ngọc bảo cổ truyện, Ngọc phả cổ lục là tác giả nói đến phong cách như truyện kể. Văn bản thứ 1 ông đọc ” vĩnh truyền” thì được, còn văn bản 2 và 3 tôi đọc là “truyện” chứ không đọc “truyền” là vì vậy. Một chi tiết khác: Hoằng Định nguyên niên là năm 1601 chứ không phải “1619 –Lê Kính Tông” như ông Xương ghi.

Đối với văn bản thứ nhất ông Xương chưa trình bày hay chứng minh đặc điểm của nó, chỉ căn cứ vào niên đại ghi trên sách là Thiên Phúc nguyên niên (986) đã vội coi đó là “là bản cổ nhất và có lẽ cũng là bản ngọc phả đầu tiên mà sự tích các vua Hùng được soạn thành văn bản” thì rõ ràng là thiếu thuyết phục. Chính vì vậy Ban Biên Tập mới có ghi chú:

“Niên đại các bản Thần tích, Ngọc phả là một vấn đề còn phải nghiên cứu thêm. Tác giả tham luận chưa nói rõ nơi tàng trữ văn bản cũng như xuất xứ các bản dịch. Chúng tôi tạm bằng lòng với tham luận hiện có (B.B.T)” [ ]
[  ] Thông báo Hán Nôm học 1995 ( tr.461-467).

  1. Bản Hùng vương ngọc phả (HVNP) của Bảo tàng Phú Thọ:

Văn bản tôi dùng để làm bản dịch này là một bản của Viện NCHN sao chụp lại từ nguyên bản cuốn Hùng đồ thập bát diệp Thánh vương ngọc phả cổ truyện của Ty Văn hoá Phú Thọ, nay dã chuyển cho Bảo tàng Hùng vương Phú Thọ. Bản này gồm 21 tờ giấy chép hai mặt x 2 trang, trang 10 dòng x 21 chữ, đúng số tờ như đã ghi ở cuói sách:“ 以上共貳十壹張dĩ thượng cộng nhị thập nhất trang/ Ở trên cộng là 21 tờ giấy” Không kể 2 tờ đầu, một tờ chụp lại trang 1 bên trong đưa ra làm bìa. 1 tờ là bản khai của xã XuânLũng huyện Sơn Vi trấn Sơn Tây về các thửa ruộng thờ và quy định lễ vật (xôi, lợn dâng cúng hàng năm)

Tờ 1a: Tên sách: Hùng đồ Hùng đồ thập bát diệp Thánh vương ngọc phả cổ truyện 雄圖十八葉聖王玉譜古傳Tờ 1b: Năm thực hiện việc hiệu đính và sao chép lại từ bản cổ:    皇朝弘定元年庚子冬十月吉日翰林侍讀阮仲重訂

Hoàng triều Hoằng Định nguyên niên Canh Tí đông thập nguyệt cát nhật. Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng trùng đính

Năm Canh Tí niên hiệu Hoằng Định thứ nhất mùa đông, tháng 10 (11-1601), ngày tốt.

Sao bản lưu tại Quan lang phụ đạo Hùng vương tôn điệt phụ truyền tử kế dữ Nghĩa Động xã  trưởng tạo lệ hộ nhi Trung Nghĩa hương giám thủ

(Bản sao lưu tại nhà Quan lang phụ đạo cháu chắt của vua Hùng, cha truyền con nối, cũng xã trưởng tạo lệ hộ nhi TrungNghĩa hương giám thủ.

Lễ phiên Lê Đình Hoan thừa sao.

Chữ viết: Bản sao được thực hiện bởi chuyên gia thư tả Lê Đình Hoan làm việc ở Lễ phiên ( ban ở phủ chúa Trịnh tươngứng chức năng củ bộ Lễ). Toàn bộ bản chép  cùng một kiểu chữ của một người. Đó là kiểu chữ Lệ viết nghiêng rất đặc trưng cho thư pháp triều Lê.
Chữ Lệ cũng bắt nguồn từ chữ Triện nhưng có những cải tạo quan trọng, do Trình Miệu 程邈một người tù làm nô lệ thời Tần Thuỷ Hoàng sáng tạo cuối Tần phát triển đầu Hán, sau trở thành một trong bốn thể chữ chính của Hán tự (chính[tức Khải], thảo, lệ, triện), là thể chữ trang trọng, có kết cấu hợp lý, được số đong cho là đẹp. Chữ lệ ngay cả hình thức chữ “đứng” (trực) của nó vốn có đặc điểm hơi nghiêng một tí về bên phải; nhưng cũng có loại nghiêng nhiều hơn (thiên). Trung Quốc chủ yếu dùng loại chữ lệ đứng (xem ảnh nền đen).

Trên ảnh đã dẫn chúng ta thấy chữ lệ đứng của Trung Quốc

(nền đen bên phải) và chữ lệ nghiêng của văn bản HVNP chúng tôi đang nghiên cúư. Có thể tỷ lệ chưa cao, nhưng chúng ta có cứ liệu cho thấy từ đầu Lê sơ (thế kỷ XV) và Lê trung hưng chữ lệ nghiêng đã đựoc dùng để viết các tài liệu của triều đình ( x. ảnh sắc chỉ năm Đại Hoà thứ 9/  )  Vì văn bản có ít nên chưa kết luận được Lê sơ về trước có thông dụng chữ lệ nghiêng hay không, nhưng thời Lê trung hưng thì lệ nghiêng là loại chữ đựoc nhiều người ưa thích. Thời Tây Sơn và đầu Nguyễn thỉnh thoảng cũng còn, nhưng nói chung ít gặp hơn trước.Vì thế các chuyên gia Hán Nôm phần nhiều đều nhận rằng loại chữ lệ nghiêng này mang đặc điểm niên đại các thế kỷ 15 -18 khá rõ. Có một đặc điểm nữa là loại chữ này hiếm, ít người biết và nhất là khó viết, vì thế hầu như rất ít khả năng bị làm giả.
Ở bản ảnh trích ảnh dẫn trên, toi đã thể hiện đặc điểm chữ lệ nghiêng của văn bản HVNP, do đó chúng ta có cơ sở khoa học để xác định nguyên bản HVNP do Bảo tàng Phú Thọ lưu giữ đích thực là một thư tịch được sao chép năm vào năm Hoằng Định 1 (1601) tức là năm đầu tiên của thế kỷ XVII cách nay 410 năm.Mừng vì ta còn giữ được bản Ngọc phả ấy khá cổ, nhưng lại hơi chớm lo, bởi vì nội dung của nó thì chúng ta đã có nhiều bản sao rồi, nhưng lo mình bỏ công chứng minh bản ấy cổ quý lại “vẽ đường cho hươu chạy”, biết đâu có ngày “hươu” bị chạy mất chăng?
Trên tôi có nói hiện tôi chỉ có 2 văn bản mà tôi nghĩ có thể ta vẫn còn nhiều bản hơn. Trong lúc chờ đợi, tôi lục tìm trên mạng thấy đựoc một tư liệu quý và nghĩ là ở nước ngoài như Nhật, Mỹ, Pháp cũng có thể có vài văn bản. GS Nhật Bản có thể đã sớm đọc HVNP- có thể chính là bản tôi đang dùng làm việc tai đây (hoặc có nội dung khá tương tự) bởi vì trên mục “Hồng Bàng”, Wikipedia có lập một tên hiệu các vua Hùng căn cứ vào tài liệu của GS Nhật Bản Nham Thôn Thành Doãn 岩村成允[ ]khá nhất trí với bản tôi lập. Sau đây là bảng so sánh bản thế hệ các thế hệ vua Hùng do tôi lập (đã đặt trước bản dịch) và bản của Nham Thôn.

[]岩村成允. 《安南通史》, 許雲樵譯. 新加坡: 星洲世界書局有限公司(1957)
-Có thể thấy bản NĐT và bản Nham Thôn gần như là trùng khít cả về thứ tự các thế hệ: Chỉ tính từ Kinh Dương vương bắt đầu đi làm vua phương Nam. Số đời là 18 đúng như các sử sách khác vẫn chép. Các tên hiệu chữ Hán đều hoàn toàn giống nhau. Cách đọc chỉ khác nhau 1 trường hợp: NĐT đọc Việp vương, Nham Thôn đọc Diệp vương: Chữ  曄 (yè) vẫn thường có2 cách đọc: Việp/ Diệp (NĐT đọc Việ p như âm vẫn quen dùng như trong tên tước của Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc). Bản tiếng Anh của Wikipedia đọc là Hoa – chữ ấy không ít người đọc nhầm là chữ Hoa vì bên cạnh có chữ Hoa. Cả hiệu của Hùng vương thứ 18 Hùng Tuyn vương bản Nham Thôn cũng viết và đọc đúng là Tuyền vương (như NĐT đọc), trên bảng đã lập ghi “Tuyên” chắc do đánh máy sót dấu. Bản tiếng Anh của Wiki thì vẫn như không ít người đọc nhầm chữ 璿 [xuán] là Duệ vương. Tiếc rằng không ít bài viết về Hùng vương trên sách báo hiện nay vẫn cứ viết “Hùng Duệ vương” bất chấp xuất xứ!
Như vậy qua so sánh sơ bộ với bản Nham Thôn chúng ta có cơ sở để tin rằng các văn bàn HVNP thuộc hệ Hồng Đức nguyên niên (1470) hiện còn khá tương đồng với nhau. Những sai khác tất không tránh khỏi, nhưng chủ yếu có thể chỉ ở chi tiết và văn tự.
(Tuyền và Duệ rất dễ nhầm, tôi đã lập 1 bản khảo âm tự của liên quan đến chữ 璿 để mọi người tham khảo, x. ảnh đặt sát dưới)

*

III.LỜI NGƯỜI DỊCH

Đọc HVNP là chúng ta đã bước vào thế giới của những thần thoại huyền tích kỳ vĩ không chỉ liên quan đến thời kỳ lập quốc dựng nước mà còn xa hơn nữa đến cội nguồn tổ tiên của dân tộc. Các địa danh nhân danh trong HVNP sử sách đã viết nhiều bàn nhiều nhưng hầu như cũng chưa vén được bao nhiêu lớp sương mù nhiều ngàn năm. Vì vậy, dịch xong HVNP người dịch nhận ra rằng ở đây không có ngôn ngữ cho nguời chú thích khảo chứng để chứng minh những gì không đúng với lịch sử như chúng ta biết ngày nay. Thay vào đó trong cuộc đi như hành trình của chàng Ôđixê đi tìm dân tộc mình, rải rác ta có thể nhận ra những điều tưởng hoang đường lại được xác nhận ở một nguồn tin độc lập nào đó. Tôi muốn giới thiệu ở đây vài trường hợp:

1.Về nước Việt Thường

Học giới VN & quốc tế đều Đại Việt sử lược (ĐVSL) là bộ sử có giá trị như thế nào. Ngay trang đầu nói về nguồn gốc và lịch sử Việt Nam, tác giả viết:

泮築城於越裳,號安陽王 Phán trúc thành ư Việt Thường, hiệu An Dương vương (ĐVSL,

Q.1-1a)

Câu này ngắn, chúng ta còn quay lại một lữa với vế sau. Bây giờ hãy chú ý đến vế đầu. Bản dịch ĐVSL đến nay đã có hai bản dịch, nhưng không bản nào in kèm nguyên văn chữ Hán. Bản chữ Hán thì trên mạng nay có nhiều, đều là bản điện tử, khi cần cũng tạm dùng đựoc, nhưng tôi gắng sưu tập để bạn đọc có ngay nguyên bản in ảnh của bản Thủ Sơn các tùng thư trong Tứ khố toàn thư (Sử bộ) [ĂNH 5]. Cả bản dịch cũng chụp ảnh để bạn đọc có trước mắt bản dịch của của Trần Quốc Vượng [5]. Đây rõ ràng là nói về ngôi thành hình ốc ở Cổ Loa bên Đông Anh, thế mà ĐVSL lại nói là ở Việt Thường! Chuyện gì lạ vậy? Trong một chú thích trước đó, Trần Quốc Vượng đã chú về Việt Thường: “Tập truyền vẫn cho là ở miền Nghệ – Tĩnh vì Việt Thường là ở phía Nam Giao Chỉ”. Đến câu dẫn trên, nhà sử học trẻ tuổi Trần Quốc vượng thật sự đã bị “sốc” vì ĐVSL nói Thục Phán đắp thành ở …Việt Thường! Nếu không có nguyên bản Hán văn như trên, có lẽ bút giả cùng bạn đọc cũng đã không thể tin vào mắt mình. Thành Cổ Loa mà lại là ở Việt Thường ư? Soạn giả ĐVSL (Trần Phổ hay Trần Tấn) có bé cái nhầm không đấy? Để thể hiện cú choáng này, TQV (như trên trích ảnh sau đây) đã ghi một chú thích rất kiềm chế như sau:

“Theo lời ghi chép ở đây thị Việt Thường thị lại là đất Cổ Loa, Đông Anh, Phúc Yên”.[ANH6] Tôi khoanh tròn hai chữ “lại là” vào hai chữ ấy hay không chê vào đâu đựoc ấy: vừa không vội chê ĐVSL chép nhầm, vừa thông báo cho người đọc biết sự ngỡ ngàng của ông vì “tập truyền” vẫn nói Việt Thường ở Nghệ Tĩnh, sao với câu này Cổ Loa cũng “lại là” Việt Thường?

Sự nghiệp nghiên cứu lịch sử dân tộc của chúng ta còn lâu dài dài, người trước góp tư liệu cho người sau. Nếu ai cũng nói chung chung, không thấy chứng cớ sử liệu đâu thì chẳng khác gì người đi kiện lâu ngày quá mất cả hồ sơ. Vậy thì chỗ nói Việt Thường ở miền Nghệ Tĩnh cụ thể ra sao cũng cần kê cứu: sử gia Trần Trọng Kim hình như chưa nói đến, nhưng cố GS Đào Duy Anh đã nói Việt Thường ở quận Cửu Đức, “tương đương với miền Hà Tĩnh ngày nay”. [ẢNH 7]

Đến Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư), bản dịch cũ không có chú thích từ Việt Thường. Khi làm chú thích bản dịch mới, tôi tra cứu thêm mấy tư liệu thư tịch và đã đưa cả ý kiến của cụ Đào vào chú thích từ Việt Thường.

Nay tôi tìm được văn bản Thủy kinh chú (cũng bản in ảnh trong TKTT) tiện cũng trích ảnh đưa vào đây để củng cố chúng cứ:

“ Cửu Đức, cửu di sở cực”: quận Cửu Đức là đất cuối cùng cửa cửu di (Sử TQ gọi các nước phía nam và phía đông TQ là “man di”, hoặc gọi chung là “cửu di”), cho nên lấy ý ấy để đặt tên quận. Trên đất của quận này thời nhà Chu có nước Việt Thường.

“ Lâm Ấp ký nói: Thời nhà Chu, có nước di Việt Thường là nước xa nhất của “cửu di” nói đến trong Chu lễ. Nước Việt Thường đem chi trĩ trắng và ngà voi, thông qua 9 lần dịch mà đến [thăm/ giao hảo]” (Lịch Đạo Nguyên, Thuỷ kinh chú, Q.36 –tờ 24 ab) [ẢNH 9]

Với hai điều ghi liên tiếp trong cùng 1 trang:

-Quận Cửu Đức là nơi xa nhất của cửu di.

-Nước Việt Thường là nơi xa nhất của cửu di

Tức nước Việt Thường ở vị trí của quận Cửu Đức. Cửu Đức đựoc xác định là đất Hà Tĩnh hiện nay.

Gần đây có tác giả kê cả Nghệ An, hoặc cả Nghệ An,Thanh Hoá (khu IV cũ): điều đó có lẽ cũng là lịch sử trên tiến trình mở rộng cương vực của Việt Thường. Nhưng chỉ Hà Tĩnh mới tương ứng với câu trích của Thuỷ kinh chú, vì Nghệ An và Thanh Hoá không bao gồm trong tên quận Cửu Đức ( Nghệ An là Hoan Châu, Thanh Hoá là Ái Châu).

Bây giờ chúng ta trở lại vấn đề đã nêu trên: Đất Việt Thường ở Hà Tĩnh, tại sao ĐVSL lại chép An Dương vương đắp thành ở Việt Thường? Khó hiểu quá. Thông thường cái gì khó hiểu thì người ta nghi có sai lầm. Tình tiết lặt vặt lẫn trong biên niên các năm không nói làm gì, đằng này, sự kiện lớn đùng, không cái mảy lông có thể bỏ qua! Hơn nữa đây lại là ghi chép ở phần mào đầu bộ quốc sử, có lẽ nào soạn giả của nó lại vô tâm vô tứ đến thế?

Đọc xem, tra cứu ĐVSL không biết bao lần rồi, thế mà đối với câu này, sau khi đọc xong dịch xong Hùng vương ngọc phả bút giả bất giác phải thốt lên: “ĐVSL không nhầm!!”

HVNP kể cho ta nghe Đế Minh cho Kinh Dương vương (huý Lộc Tục –theo Toàn thư, còn HVNP không chép tên huý Lộc Tục) đi làm vua phương Nam. Kinh Dương vương theo dãy núi Nam Miên (nghĩa là: dãy núi kéo dài về phía nam) mà đi. Trên đường đi vưong ngắm xem phong thuỷ, chon nơi hình thế thắng địa để đóng đô ấp [tức quốc đô]. Qua đất Hoan Châu (nay đổi là xứ Nghệ An. Nơi đó là các xã Nội Thiên Lộc, Tả Thiên Lộc, Tỉnh Thạch thuộc huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang) vua chọn được một vùng phong cảnh tươi đẹp, [núi non]muôn nhẫn lâu đài, gọi là núi Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 ngọn. (Xưa gọi là Cựu Đô, nay gọi là Ngàn Hống). Khi đã định đô ở vùng Ngàn Hống, bản tính vua ưa thích môn phong thuỷ nên lại lên thuyền đi nữa, thuyền dạt vào vùng hồ Động Đình, rồi mới gặp con gái vua Động Đình hồ là Thần long. Vua đem Thần Long cùng về bằng đường bộ, xa giá rong ruỗi khắp các nơi sơn xuyên. Khi về qua cửa sông Bạch Hạc, vua thấy vùng này “Nghìn non nâng chủ, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về ngọ Tổ sơn Nghĩa Lĩnh” Vua nhận ra nơi này thế đất quý đẹp hơn đô thành cũ ở Hoan Châu, bèn lập điện chính ở Nghĩa Lĩnh để thỉnh thoảng ngự giá đến nghỉ, bên ngoài dựng đô thành Phong Châu (nay là Cựu đô thành ở thôn Việt Trì huyện Bạch Hạc -tức vùng Đền Hùng hiện nay). Nhưng không ở hẳn lại đấy, vua còn trở lại cựu đô Ngàn Hống ở Hoan Châu, còn kinh đô mới thì đặt làm đô ấp của nước Việt Thường [ẢNH 10]

Như vậy ta thấy theo HVNP ngay từ thời Kinh Dương vương, tên nước đầu tiên đã gọi là nước Việt Thường, quốc đô lúc đầu đặt ở núi Thứu Lĩnh, Hoan Châu (cựu đô Ngàn Hống). Về sau cương vực Việt Thường mở rộng ra cả vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Vua (Kinh Dương) cho dựng đô mới tại Phong Châu (khu vực đền Hùng hiện nay). Vì thế, ĐVSL viết thành Cổ Loa ở Việt Thường là đúng sự thực lịch sử chứ không sai hoặc đáng ngờ! Chỉ vì chúng ta biết quá ít về giai đoạn này nên mới sinh đại hoài nghi như vậy! Liệu những ghi chép này có giúp chúng ta từ trong sương mù huyền thoại của HVNP nhận ra được vài thông tin lịch sử vô cùng quý giá cho việc tìm hiểu, nghiên cứu những bước đi đầu tiên trong quá trình dựng nước của tổ tiên chúng ta hay không hẳn còn phải trông đợi lớn ở sự thẩm định của học giới ngày nay.

Tôi nghĩ rằng có lẽ trước nay chúng ta chưa quan tâm nên bỏ quên cả ký ức đi, nhưng lịch sử giai đoạn này vẫn có những thông tin đáng khảo cứu. Về việc đắp thành Cổ Loa ở Việt Thường làm cho cố GS Trần Quốc Vượng phải đặt dấu hỏi mà có lẽ cũng nhiều người (kể cả bản thân tôi) cũng chia sẻ mối đại nghi ngờ đó. Nhưng lạ quá, điều ghi đó không chỉ riêng của ĐVSL, mà cả Toàn thư [ẢNH 11], Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ cũng đều ghi như thế!

Vậy thì phải chăng chúng ta đã có thể khẳng định một điều: Nước Việt Thường là khởi đầu của lịch sử Việt Nam. Quốc hiệu đầu tiên của nước ta là Việt Thường. Cương vực của Việt Thường lúc đầu ở vùng Hà Tĩnh, về sau mở rộng ra vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ hiện nay.

2. Thục vương hay Hùng vương – ai xây thành Cổ Loa ?

Khác với ghi chép về Việt Thường, thành Cổ Loa ngày nay không còn là thần tích hay huyền thoại nữa mà là cả khu di tích của một toà thành cổ có quy mô lớn nhất nước ta.

Nhưng vua nào cho xây thành Cổ Loa? Vấn đề này, các bộ quốc sử từ ĐVSL, Toàn thư, đến Cương mục v.v…đều thống nhất ghi nhận Thục An Dương vương là người cho đắp thành Cổ Loa, tức Cổ Loa là thành của An Dương vương.

Nhưng có một tài liệu nói khác: Đó là HVNP chúng ta đang đọc đây!

Thục vương – HVNP chỉ chép Thục vương, không ghi tên là Phán như các tài liệu khác- là chúa Phụ đạo của Ai Lao (Ai Lao Phụ đạo chủ) cũng thuộc dòng phái của họ Hùng, từ xa nghe tin Hùng vương truyền ngôi cho rể là Tản Viên bèn đem quân sang đánh Hùng Tuyền vương (Tuyền 璿 chứ không phải “Duệ” hay “Tuấn” như không ít người đọc lầm) để đoạt lấy nước. Quân Thục vương nhiều lần thua trận, nhưng Hùng Tuyền vương cậy mình có thần lực, không chăm lo võ bị, quân Thục tiến đến tận nơi mà vương vẫn còn say khuớt. Quân lính nhiều người trở giáo theo Thục vương. Nhưng Hùng Tuyền vương vẫn trụ được. Tuyền vương bèn cho đắp thành ở Việt Thường, thành rộng nghìn trường, khoanh tròn như con ốc… -Chuyện kể liên tiếp, nhưng đây có thể là một cuộc giằng co lâu năm chứ không phải chuyện ngày một ngày hai. Nhưng việc đắp thành không thuận, đắp đến đâu đổ đến đây, rồi rùa vàng xuất hiện giúp Tuyền vương trừ quỷ ở núi Thất Diệu v.v…Trước khi ra đi, rùa vàng rút chiếc mong đưa cho Tuyền vương dặn chế chiếc nỏ, lấy cái móng làm lẫy, khi có giặc thì lấy nỏ thần ấy ra mà bắn …Sau quân Thục lại kéo sang vây thành Cổ Loa, Hùng Tuyền vương cho gọi Tản Viên đem quân về cứu. Tản Viên đem quân về dàn trận trước cửa thành, nhưng chỉ hư trương thanh thế chứ không giao chiến với quân của Thục vương.

“Mấy hôm sau Tản Viên khuyên Hùng Tuyền vương: “Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục vương thừa cơ gây hấn xâm lấn nước ta. Vả lại Thục vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của tiền hoàng đế. Nay quốc thế không được bình thường, cũng là chuyện do tiền định. Vua có yêu riêng gì một cõi đất phương nam mà cưỡng lại ý trời, làm hại sinh linh? Vả lại bệ hạ và thần đã có phép thần tiên, không gì hơn là quay về chốn Bồng Hồ, Lãng Uyển, tiêu dao ở làng quê bất lão, thanh nhàn nơi gác phượng lầu rồng, há phải nhiễm bẩn bụi trần, vàng ngọc châu báu cũng chẳng bằng mảy lông, ngọc nữ tiên đồng cũng chỉ mát mắt chốc lát….”

Tuyền vương cho là phải, sai đưa thư nhường nước cho Thục vương.

Thục vương sai sứ đến tạ ơn. Tuyền vương nhân đó tặng cho Thục vương cả chiếc nỏ thần, rồi trở về núi Nghĩa Lĩnh cùng với Tản Viên Sơn Tinh biến hoá vào cõi hoá sinh bất diệt.Thục An vương đã được nhường nước, tưởng nhớ ơn đức trời biển của Hùng Tuyền vương bèn xa giá đến núi Nghĩa Lĩnh cho dựng Dao Đài để làm nơi quốc gia phụng thờ, dựng hai cột đá trong núi, chỉ tay lên trời thề rằng:

-Nguyện trời cao mây xám lồng lộng xét soi: nước Nam trường tồn trường tại. Ngôi miếu Hùng vương nơi đây nếu vua sau kế trị mà bội ước nhạt thề thì sẽ bị rìu trăng búa gió trừng phạt, không phụ lời thề của tiền nhân.

Đọc lời khấn xong, Thục vương lạy tạ rồi lên xe trở về kinh đô Phong Châu, cho triệu các dòng phái cành vàng lá ngọc của dòng họ Hùng ban cho danh hiệu Trung nghĩa huơng (làng Trung nghĩa), cấp cho dân tạo lệ hưởng dụng lâu dài, cấp 500 mẫu ruộng ruộng ở gò Nghĩa Lĩnh v.v..

Như vậy, theo HVNP, Hùng Tuyền vương có giao tranh với Thục vương, nhưng sau đó là một cuộc chuyển giao quyền lực êm thấm giữa những người trong tông tộc. Thục vương lên ngôi trị vì, sau nữa mới xẩy việc Triệu Đà đem quân sang đánh. Triệu Đà đánh không thắng phải giảng hoà, sai con là Trọng Thuỷ vào làm lính Túc vệ cho Thục vương, rồi Trọng Thuỷ cầu hôn với Mỵ Châu, xin xem rồi đổi lẫy nỏ. Nỏ thần không linh nghiệm, Thục vương thua chạy, cơ đồ họ Hùng bèn mất. Các sự kiện đắp thành Cổ Loa, rùa vàng giúp xây thành và cho vuốt để chế nỏ thần v.v..đều thuộc chủ thể là vua Hùng (Tuyền vương). Vua Hùng không bị bại trận bởi Thục Phán mà theo lời khuyên của Tản Viên đã nhường nước và cả chiếc nỏ thần cho Thục vương, rồi trở về núi Nghĩa Lĩnh cùng với Tản Viên biến hoá vào cõi hoá sinh bất diệt.

Nói đặc sắc vì những ghi chép này khác hẳn so với các bộ quốc sử và nhiều thư tịch cổ khác [ 6]. Người dịch chỉ nêu lên nét đặc sắc ấy để người đọc lưu ý khỏi bị trượt qua. Nhưng hình như chính ở diều này lại có nhiều ý kiến “phản bác” HVNP! Cũng là một sự hay nên có đối với học thuật [7].

Trên đây là một vài đặc sắc của Hùng vương ngọc phả theo hệ nguyên bản Hồng Đức nguyên niên.

Ngạn xuyên NGÔ ĐỨC THỌ

Chú thích:

[ 1] Thông báo Hán Nôm học 1995 ( tr.461-467).

[ 2] 岩村成允. 《安南通史》, 許雲樵譯. 新加坡: 星洲世界書局有限公司(1957)

[3 ] Xem ảnh chụp tờ 19ª (bên cạnh)

[4 ] Xem Bản tra cứu tự âm chữ Tuyền (đặt ở cuối phần chú thích)

[5] Việt sử lược. Trần Quốc Vượng dịch. H.,Nxb Văn Sử Địa, 1960.

[6] Ở chỗ nói việc đắp thành hình ốc, nguyên bản HVNP viết: “ 於是築城于越裳 (Ư thị trúc thành vu Việt Thường”/ Bèn đắp thắp thành ở Việt Thường), cấu trúc ẩn chủ ngữ, tức vẫn là chủ ngữ liên tục từ các câu trước chưa thay đổi. Thấy vậy, một người đọc nào đó trước đây theo cách hiểu truyền thống ( Thục Phán đắp thành) bèn thêm sát ngoài khoang trắng hai chữ “屬王Thục vương” [ẢNH 12].Tôi lúc đầu cũng bị nhầm đọc dịch theo 2 chữ thêm ấy nên dịch xong thấy logic đoạn đó đảo lộn từ vua Hùng sang Thục Phán và ngược lại. Đọc kỹ mới phát hiện 2 chữ thêm đó làm cho người đọc sau bị nhầm! Bỏ không dùng hai chữ ấy, đoạn văn trở lại hợp logic từ đầu của HVNP.

[7] Chẳng hạn x. Phan Duy Kha:Thử vén màn huyền thoại An Dương Vương ,http:/ /phanduykha. wordpress.com/2011/12/07/

Được đăng bởi Ngô Đức Thọ vào lúc 04:54

Nguồn: Ngô Đức Thọ Blog

 

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Giải mã bí ẩn về khúc ngoặt quan trọng trong cuộc đời danh tướng Ngô Văn Sở Tìm hiểu một số bản Ngọc phả Hùng Vương khác

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Mười 2015
M T W T F S S
« Sep   Nov »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: