Lý Thái Tổ và “Chiếu Dời Đô”

Tháng Tư 23, 2015 at 1:56 sáng 1 Bình luận

ChieuDoiDoNguyên văn Chiếu Dời Đô:
“Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?”
Bản dịch tiếng Việt:
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô[7], nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô[8], há phải các vua thời Tam Đại[9]; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[10], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993)
*
1. Vài nét chấm phá về thời kỳ Tiền Thăng Long.
Sự ra đời của các nền văn minh nhân loại đều gắn với những dòng sông. Nền văn minh Ai Cập gắn với sông Nin. Văn minh Lưỡng Hà gắn với hai con sông Tigơ rơ và Ơ phơ rát Văn minh Ấn độ gắn với sông Hằng, sông Ấn. Văn minh Trung Hoa gắn với sông Hoàng Hà, Dương Tử… Cũng như vậy, văn minh Văn Lang Âu Lạc của chúng ta ra đời gắn với sông Hồng. Điều đó cắt nghĩa vì sao hai Kinh đô lâu đời nhất của người Việt đều ở hai bên sông Hồng. Kinh đô Phong Châu ở tả ngạn sông Hồng (phía trên) và kinh đô Thăng Long ở hữu ngạn sông Hồng (phía dưới). Khoảng cách 70 km đường chim bayt]f Phong Châu đến Thăng Long phản ánh quá trình hàng ngàn năm mở nước của ông cha ta.
Thuở vua Hùng lập quốc đóng đô ở Phong Châu- Việt Trì thì vùng Hà Nội cổ lúc dó vẫn đang là một vùng đồng bằng mới được bồi lấp, lầy lội, có nhiều gò đống nhỏ. Truyền thuyết Lạc Long Quân diệt cáo 9 đuôi ở Đầm Xác Cáo, nay gọi là Hồ Tây phản ánh sự kiện ông cha ta đã chinh phục, khai thác địa bàn Hà Nội cổ từ ngày xưa. Từ trung tâm Thủ đô hiện nay, chỉ cần xuôi theo sông Hồng khoảng chục cây số là ta đã đến làng Chử Xá, quê hương Chử Đồng Tử (nay là Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội) . Chử xá có tên nôm là Kẻ Sứa, một cái tên nôm cổ, gợi lại một thời xa xưa, khi nơi đây vẫn còn là một vùng cửa sông, nước lợ, loài sứa thường sinh sống. Ngày nay, vào dịp tháng 3 tháng 4 âm lịch, hàng đàn cá mòi biển đông vẫn ngược nước từ cửa Ba Lạt vào tận đây để đẻ trứng. Có lẽ đây là một tập quán của loài cá mòi, đã có từ thời nơi đây vẫn còn là cửa biển.
Trải mấy ngàn năm, vùng đất Hà Nội cổ được khai phá, đông đúc dần. Những làng cổ có tên Nôm là Kẻ (tức xuất hiện trước thời kỳ Bắc thuộc) ở đây tương đối dày đặc như Kẻ Cáo, Kẻ Giàn, Kẻ Mơ, Kẻ Mọc, Kẻ Noi, Kẻ Cót… có thể so sánh với các vùng đất cổ như Đông Sơn (Thanh Hóa), Phong Châu (Phú Thọ), Ngàn Hống (Hà Tĩnh), là những vùng đất cổ, dày đặc làng Kẻ ở nước ta. Các làng Kẻ vùng Hà Nội cổ xen kẽ với đầm lầy, rừng rậm. Có những khu rừng còn để lại tên như Gia Lâm (rừng da), rừng bàng Yên Thái (vùng Bưởi, quận Tây Hồ).
Người đầu tiên chọn nơi đây để xây đắp thành trì là Lý Bí – Lý Nam Đế (544-548). Sau khi giành được độc lập, ông đã chọn đắp thành nơi cửa sông Tô Lịch thông ra sông Hồng (nay ở vào khoảng phố Chợ Gạo, quận Hoàn Kiếm). Lý Nam Đế đặt tên nước là Vạn Xuân. Tại Yên Hoa, nay là Yên Phụ, ông cho xây dựng một ngôi chùa lớn là chùa Khai Quốc, một trung tâm Phật giáo lớn của nước ta thời đó. Việc đặt tên nước Vạn Xuân, tên chùa Khai Quốc đã chứng tỏ ý chí độc lập, tự chủ , tự cường và lòng mong mỏi, kỳ vọng vận nước dài lâu của Lý Nam Đế. Từ sau đời vua Lý Nam Đế, bọn quan lại đô hộ phương Bắc mới mới để ý đến vùng đất này, chọn nơi đây để đóng lỵ sở. Nhà Tùy dời Đô hộ phủ từ Long Biên (trên đất Bắc Ninh) về Tống Bình (tức Hà Nội) từ năm 602 Khâu Hòa xây Tử Thành năm 621, Trương Bá Nghi đắp La Thành năm 767 và Cao Biền đắp thành Đại La năm 866- 868. Như vậy là trước khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long thì nơi đây đã nhiều đời là lỵ sở, là trung tâm cai trị của các đời Thứ sử, Thái thú phương Bắc.
2. “Chiếu dời đô”-Bản khai sinh của kinh đô Thăng Long
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” thì đích thân Lý Thái Tổ viết “Chiếu dời đô”. Đây là kết quả của cả một quá trình “điều tra, khảo sát” (theo cách gọi của chúng ta ngày nay) từ trước đó. Trong thời gian còn làm quan cho nhà Lê (tiền Lê), từ kinh đô Hoa Lư về quê Cổ Pháp, chắc nhiều lần Lý Thái Tổ đã dừng lại ở tòa thành Đại La để tìm hiểu dân tình. Và vị trí thành Đại La ở “trung tâm của trời đất” đã hấp dẫn, cuốn hút ông. Vì thế mà mới lên ngôi tháng 10/1009 thì tháng 7/1010, ông đã dời đô từ Hoa Lư ra Đại La.
Mở đầu bài chiếu phân tích lý do dời đô là lẽ tự nhiên, khi đô cũ không còn đáp ứng nhu cầu phát triển, xu thế đi lên của thời đại, của đất nước. Lý Thái Tổ là người hiểu sâu sắc sự tác động qua lại, sự gắn bó hữu cơ giữa kinh đô của một quốc gia với sự hưng thịnh của quốc gia đó. Lựa chọn được kinh đô hợp với quy luật phát triển thì vận nước mới dài lâu, quốc gia mới hưng thịnh. Bài chiếu lấy dẫn chứng từ các triều đại Thương, Chu bên Trung Hoa. Thực ra thì trong lịch sử lâu dài của dân tộc ta, cho đến thời đại Lý Thái Tổ, các triều đại Việt Nam cũng đã từng nhiều lần dời đô (hay là chọn đóng đô ở nhiều địa điểm khác nhau): thời Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, Phú Thọ; An Dương Vương đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh; Hai Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh, Phúc Yên; Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh; rồi hai nhà Đinh – Lê đóng đô ở Hoa Lư, Ninh Bình. Nếu Lý Thái Tổ lấy thí dụ trong lịch sử Việt Nam thì bài chiếu của ông còn hay hơn, ý nghĩa hơn nhiều.
Toàn bộ ý chính của bài chiếu nằm gọn trong phần thứ 2. Bằng những câu văn cô đọng, hàm súc, bằng những lập luận chặt chẽ, chính xác, tác giả đã nêu lên đặc điểm về địa lý, những ưu thế của Đại La mà các địa điểm khác không thể có được: “Huống chi, thành Đại La là cố đô của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm của trời đất, có cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng ngôi vị nam, bắc, đông, tây, thuận núi sông quay đi ngoảnh lại, đất đi rộng mà bằng, cao mà thoáng, dân cư khỏi chịu cái khổ ngập lụt, muôn vật rất dồi dào. Xem khắp đất Việt ta chỉ đây là nơi thắng địa. Thật là nơi hội tụ quan trọng của bốn phương, nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.images
“Chiếu dời đô” là bản khai sinh của kinh đô Thăng Long. Trên thế giới có nhiều kinh đô, nhưng hiếm có kinh đô nào có bản khai sinh mang dấu ấn ngàn năm như kinh đô Thăng Long của chúng ta. Một ngàn năm sau, đọc lại “Chiếu dời đô”, ta càng thấm thía càng cảm phục tài năng, trí tuệ, tầm nhìn và ý chí quyết đoán sáng suốt của vị vua sáng lập triều đại nhà Lý
*

Trích từ cuốn “Từ Điện Kính Thiên triều Lê...”

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Gặp mặt nhân dịp 25 năm nghiên cứu lịch sử và tìm hiểu Phả họ Nguyễn của ông Nguyễn Văn Thành Trò chuyện với nguyên Tổng Biên tập Đinh Khắc Vượng

1 Phản hồi Add your own

  • 1. nguyễn văn khá  |  Tháng Mười Hai 4, 2015 lúc 6:28 chiều

    Dời đô từ Hoa lư về thăng long là một trong những sai lầm lớn nhất trong lịch sử vn. Cái đất đông quan là cái đất mèo mả gà đồng cái ông lý uẩn thích gái đông quan dễ như khóa viro nên mới mò ra đấy, cái đất ngàn năm đô hộ, cái đất ăn xim trộm cắp, cái đất trưởng giả làm sang, cái đất làm quan thì đua nhau hà hiếp dân, gặp thằng to thì lạy lục dâng dâng nước hưởng lộc riêng, nên soạn lại chiếu dời đô về hoa lư là hay nhất.

    Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Tư 2015
M T W T F S S
« Mar   May »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: