Nghiên cứu lịch sử qua …lời kể/ Chắp tay bái phục, Giáo sư ơi

Tháng Mười Hai 1, 2013 at 2:24 sáng 3 comments

Trong một số bài viết trước, chúng tôi đã đề cập đến những xu hướng “nghiên cứu lịch sử” chỉ căn cứ vào gia phả dòng họ, không cần quan tâm gia phả đó do ai viết, được viết từ bao giờ. Thế mới có chuyện lấy gia phả mới được viết năm 2000 để “nghiên cứu lịch sử” thời  vua Quang Trung! Lại có những người là Giáo sư, Tiến sĩ này nọ, thậm chí còn không căn cứ vào cơ sở nào cả, chỉ nghe qua lời kể của con cháu danh nhân để làm tư liệu “nghiên cứu” thế mới lạ. Chao ôi, vì một chút nhuận bút còm hay vì cái gì, không biết nữa!

Sau đây là một trường hợp như thế. Bài viết này của tôi được in lần đầu tiên trên Tạp chí Thế giới mới, sau đó tôi tập hợp in lại trong cuốn “Lịch sử và sự ngộ nhận”. Sau đây là nội dung bài viết:

*

PHAN VĂN LÂN CÓ PHẢI LÀ CHÁU NỘI PHAN KÍNH?

Phan Văn Lân là một danh tướng của triều đại Tây Sơn. Tên tuổi của ông gắn liền với trận Đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu, tiêu diệt 29 vạn quân Thanh, giải phóng Thăng Long và giải phóng hoàn toàn đất nước. Sau chiến công oanh liệt Đống Đa, Phan Văn Lân cùng Ngô Văn Sở được Hoàng đế Quang Trung giao cho việc quản lý quân dân 11 trấn Bắc Hà.P1070560 Trong công việc này, hai ông đã có những thành tựu đáng kể, đưa Bắc Hà trở thành một địa bàn ổn định, góp phần vào sự ổn định và phát triển chung của đất nước dưới triều đại Tây Sơn. Tuy nhiên, không lâu sau đó vua Quang Trung mất. Vua kế vị là Quang Toản còn nhỏ tuổi. Các đại thần gây bè kết cánh, hãm hại lẫn nhau làm cho triều đại Tây Sơn mất ổn định, nhanh chóng đi đến diệt vong. Lịch sử sau này không thấy ghi chép gì về Phan Văn Lân nữa. Như vậy, Phan Văn Lân là ai, xuất thân như thế nào, kết cục ra sao vẫn là một bí ẩn của lịch sử.

Gần đây có một số tác giả, qua một số sách báo, cho rằng Phan Văn Lân là cháu nội Phan Kính, một vị Thám hoa thời Lê, quê ở Song Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh. Người đầu tiên nêu lên vấn đề này là tác giả Lê Trọng Hoàn, trong Hội thảo khoa học về danh nhân Phan Kính, diễn ra tại Văn Miếu (Hà Nội) vào tháng 12 – 1996. Tài liệu này sau đó được tập hợp và in lại trong cuốn Danh nhân Phan Kính (Nxb Khoa học xã hội – Hà Nội, 1999) trong bài “Con cháu Phan Kính với sự nghiệp nhà Tây Sơn”. Trong bài viết này, tác giả Lê Trọng Hoàn cho rằng Phan Chu và Phan Văn Lân là con cháu Phan Kính và đều là học trò của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được Nguyễn Thiếp giao cho trọng trách vào Phú Xuân tạ ơn Nguyễn Huệ vào năm 1782. Tại đây, Nguyễn Huệ thấy Phan Văn Lân là người tài giỏi  đã giữ lại bên mình và phong làm tướng. Ông được Nguyễn Huệ giao cho (cùng với Ngô Văn Sở) phụ trách Đàng Ngoài, còn Đàng Trong thì có Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Phạm Văn Tham…Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số tháng 6- 2004 có bài viết của 2 nhà nghiên cứu là Giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Phan Quang (Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) và Trần Ngọc Anh (nguyên Hiệu trưởng Trường Trung học Lai Thạch, Hà Tĩnh) với nhan đề: “Danh tướng Tây Sơn Phan Văn Lân” (1). Trong bài viết này 2 tác giả cũng khẳng định: “Phan Văn Lân sinh năm Canh Thìn (1760) được đặt tên là Phan Đông Hi, biệt hiệu là Tốn Trai, là con trưởng của Phan Chu và là cháu đích tôn của Thám hoa Phan Kính” (tr.67 Sđd)

Vậy Phan Văn Lân là ai, có phải là Phan Đông Hi, cháu đích tôn của Phan Kính hay không, xin có đôi lời trao đổi.

1. Phan Kính là danh thần triều Lê, đỗ Thám hoa khoa Quí Hợi (1743). Ông sinh năm 1715 và mất năm 1761 tại nhiệm sở Hưng Hóa khi đang tiến hành công việc tiễu phỉ ở vùng biên giới. Theo gia phả họ Phan thì Phan Kính sinh Phan Chu (cũng gọi là Nhuận), Phan Chu đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão triều Lê (1759) có làm một chức quan nhỏ, sau đó từ quan, theo La Sơn Phu tử là cậu ruột, ở ẩn tại trại Bùi Phong, núi Thiên Nhẫn. Phan Chu sinh con trai húy là Đôn vào ngày 3 tháng 3 năm Canh Thìn (1760). Chính Phan Đôn (hay Phan Văn Đôn) này được một số tác giả, đặc biệt là GS TS Nguyễn Phan Quang cho là Phan Văn Lân, mặc dù không đưa ra được một bằng chứng khoa học nào, thậm chí cũng không có dòng ghi chép nào  trong gia phả, mà chỉ nghe qua con cháu của danh nhân … kể lại.

Trong bản Long văn (văn tế) của họ Phan Vĩnh Gia ghi về Phan Văn Đôn như sau: “Lê triều khâm sai chinh Bắc tướng quân lĩnh Vũ Thành đạo Tả tướng quân, kiêm quản Lục vụ Ngũ uy Nhị ninh đẳng hiệu Ngũ tư đồ Vũ ngự sử, gia phong Suy trung Dực vận Tuyên lực công thần, Thượng trụ quốc, Thượng trật, Trà Lĩnh hầu, Phan tướng công, tự Đông Hi, hiệu Tốn Trai tiên sinh” (2). Từ bản Long văn này, chúng ta có thể tìm hiểu được phần nào (vì ghi rất vắn tắt những chức vụ và phẩm hàm cao nhất, chủ yếu nhất) nhân thân và hành trạng của ông Phan Văn Đôn mà các tác giả trong bài viết trên ghi là Phan Đông Hi, thực ra Đông Hi chỉ là tự hiệu. Ông là tướng đánh ra mặt trận phía Bắc (chinh Bắc tướng quân) vâng theo mệnh lệnh của vua Lê (Lê triều khâm sai) được lĩnh chức Tả tướng quân trong đạo Vũ Thành (lĩnh Vũ Thành đạo Tả tướng quân). Tìm hiểu đạo Vũ Thành là đạo quân nào, chúng ta có thể biết được hành trạng của Phan Văn Đôn. Đạo Vũ Thành là một đạo quân do Nguyễn Hữu Chỉnh thành lập tại Nghệ An vào cuối năm 1786. Về sự kiện này, Hoàng Lê nhất thống chí đã giành một hồi ghi chép khá dầy đủ, đó là Hồi thứ 7, có tiêu đề:

Phò Lê đế, đạo Vũ Thành lại ra quân

Đốt Trịnh cung, chúa Án Đô phải bỏ nước.

Xin điểm lại một số sự kiện chủ yếu vào thời kỳ này.

Mùa hè năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ giương cờ “Phò Lê diệt Trịnh”, kéo quân ra Thăng Long. Dưới quyền Nguyễn Huệ có Võ Văn Nhậm (Tả quân) và Nguyễn Hữu Chỉnh (Hữu quân). Nhậm và Chỉnh như hai cánh tay phải và trái của Nguyễn Huệ. Tuy nhiên, hai người này lại hiềm khích với nhau. Nguyễn Huệ cũng không ưa gì Chỉnh. Đêm 17 rạng sáng ngày 18- 8 Bính Ngọ (1786) Nguyễn Huệ bí mật rút quân về Nam, không cho Chỉnh biết, có ý bỏ rơi Chỉnh ở Thăng Long. Khi quân Tây Sơn đã lặng lẽ rời khỏi Thăng Long, Chỉnh mới biết chuyện, vội vàng cướp được một chiếc thuyền buôn, cùng vài chục gia nhân, giương buồm, rời bến sông Hồng chạy thẳng về phương nam. Bởi vì Chỉnh biết, nếu ở lại Thăng Long, thân cô thế cô, Chỉnh sẽ bị các thế lực Lê – Trịnh trả thù tàn khốc. Khi thuyền Chỉnh tới Nghệ An thì gặp quân Tây Sơn rút theo đường bộ cũng vừa về tới. Nguyễn Huệ biết tin Chỉnh trốn thoát được và đã theo kịp, giật mình bảo tả hữu rằng: “Cái thằng chết tiệt này cũng khéo tìm đường sống”. Tuy nhiên, ông cũng san sẻ cho Chỉnh một số khí giới và tiền bạc rồi cho Chỉnh đóng quân tại Nghệ An, còn ông rút quân về Thuận Hóa.

Ở Nghệ An, Chỉnh thân cô, thế cô nên đã giương chiêu bài phò Lê để chiêu tập binh mã. Trong lúc này ở Thăng Long sau khi Nguyễn Huệ rút quân thì các thế lực Trịnh Lệ, Trịnh Bồng lại nổi lên nhằm khôi phục ngôi chúa. Các quan lại vào hùa với chúa, bức hiếp nhà vua, cuối cùng Lê Chiêu Thống đành phải phong cho Trịnh Bồng tước Án Đô vương, với quy chế như các chúa Trịnh ngày xưa, khi chưa bị Tây Sơn lật đổ (tức quyền lực vào hết tay chúa, vua Lê chỉ làm vì). Chiêu Thống bị bức hiếp quá, phải ra mật chiếu vời Chỉnh từ Nghệ An ra Thăng Long để tôn phò nhà Lê. Hữu Chỉnh ở Nghệ An, nhận được mật chiếu của vua, ra sức chiêu tập binh mã, lập ra một đạo quân hàng vạn người, gọi là đạo Vũ Thành. Đạo Vũ Thành có 5 doanh quân Trung, Tiền, Hậu, Tả, Hữu. Phan Văn Đôn, cháu nội Phan Kính được giao chỉ huy doanh Tả quân trong đạo quân này. Nguyễn Hữu Chỉnh kéo quân ra Thăng Long theo mật chiếu của vua Lê, vì vậy trong Long văn của họ Phan mới có câu “Lê triều khâm sai chinh Bắc tướng quân” là vì thế. Chứ không phải như GS Nguyễn Phan Quang cắt nghĩa “Chinh Bắc tướng quân” tức là ra Bắc đánh quân Thanh. Vua Lê sai tướng đem quân ra bắc đánh quân Thanh hồi nào vậy?

Nguyễn Hữu Chỉnh kéo quân ra Thăng Long, chúa Trịnh là Án Đô vương phải bỏ chạy lên phía bắc. Chỉnh cầm quyền chính trong nước , lại bức hiếp vua Lê làm nhiều điều ngang ngược hơn cả chúa Trịnh trước đây. Chỉnh lại phản lại nhà Tây Sơn, lấy danh nghĩa vua Lê, sai sứ vào đòi lại đất Nghệ An. Nguyễn Huệ biết được sự phản phúc của Chỉnh, đã cử Võ Văn Nhậm, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân kéo quân ra hỏi tội Chỉnh. Kết cục, Chỉnh và con trai là Hữu Du đều bị giết chết. Quyền lớn Bắc Hà lại rơi vào tay Võ Văn Nhậm.

2. Chúng ta biết rằng, khi Võ Văn Nhậm kéo quân ra Bắc, trong đạo quân của Nhậm có 2 danh tướng là Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân. Điều này đã được nhiều sử sách xác nhận. Trong lúc đó người cháu nội của Phan Kính là Tả tướng quân Trà Lĩnh hầu Phan Văn Đôn đang phục vụ trong đạo quân Vũ Thành của Nguyễn Hữu Chỉnh. Như vậy Phan Văn Đôn không thể là Phan Văn Lân, nghĩa là Phan Văn Lân không thể là cháu nội Phan Kính. Trong tài liệu của ông Lê Trọng Hoàn mà các ông GS Nguyễn Phan Quang và Trần Ngọc Anh trích dẫn lại có nói rằng Phan Chu và Phan Văn Lân được Nguyễn Thiếp cử vào Phú Xuân gặp và cảm ơn Nguyễn Huệ từ năm 1782. Tuy nhiên vào năm này Phú Xuân chưa thuộc về Tây Sơn. Năm 1782 – 1783 Nguyễn Huệ đang đem quân vào đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định, làm sao mà gặp được. Tháng 5- 1786, Nguyễn Huệ mới chiếm được Phú Xuân. Tháng 6 – 1786, Nguyễn Huệ đem quân đánh ra  bắc, lúc này ông mới nghe danh Nguyễn Thiếp. Lúc này Nguyễn Thiếp mới được biết Nguyễn Huệ. Vậy thì 4 năm trước đó, làm sao Nguyễn Thiếp biết Nguyễn Huệ mà cử người vào cảm ơn, mà cảm ơn vì lẽ gì ? Còn về Phan Văn Lân (thật) thì theo Tây Sơn từ rất sớm, vào năm 1775 ông đã là Phó tướng cùng Nguyễn Lữ đánh vào Gia Định, chứ đâu phải mãi đến năm 1782 mới theo Tây Sơn?

3. Trong bài viết của GS Nguyễn Phan Quang và ông Trần Ngọc Anh còn nêu sự kiện khi Phan Văn Lân làm tướng tiên phong của Tây Sơn tiến ra Bắc đánh quân Thanh, lúc qua nhà mình (ở Can Lộc, Hà Tĩnh) ông đã cho đốt 18 gian nhà của mình lấy tro than trộn thuốc súng để chế hỏa hổ (?) và giải thích rằng, vì cấp bách quá, không thể lấy củi để đốt. Thật ra, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long diệt quân Thanh, ông đã dừng lại ở Nghệ An 10 ngày để vừa tuyển quân vừa để huấn luyện cho quân sĩ quen với chiến trận. Vùng đồng bằng Nghệ An, Hà Tĩnh là một dải đất hẹp, rất gần rừng, chỉ cách khoảng 5 – 7 km. Dân địa phương trước đây hằng ngày vẫn đi vào rừng lấy củi, mỗi ngày một chuyến, sáng đi chiều về. Vậy trong 10 ngày đó, Nguyễn Huệ thừa đủ thời gian cho quân vào rừng lấy củi, đốt than, hoặc thuận tiện nhất là mua lại của dân, việc gì lại phải cho đốt đến 18 gian nhà của một viên tướng dưới quyền của mình? Nên nhớ rằng, để đốt được củi để lấy than, người ta phải đào hầm, chất củi dưới hầm đốt củi trong điều kiện thiếu ô xy thì mới lấy được than. Đốt nhà thì khói bụi, tàn than bay đầy trời, làm sao mà lấy được than? Còn nếu phải dỡ nhà, chẻ thành củi để chất xuống hầm đốt thì thà rằng vào rừng mà chặt còn nhanh hơn.

Mặt khác theo sử sách thì Phan Văn Lân và Ngô Văn Sở được Quang Trung giao cho việc quản lý Bắc Hà. Khi quân Thanh vào Thăng Long, các ông cho quân lui về Tam Điệp bảo toàn lực lượng để chờ chủ tướng. Quang Trung ra đến Tam Điệp mới gặp Phan Văn Lân. Hoàng Lê nhất thống chí chép về sự kiện này như sau: “Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Các quân đều nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi. Khi đến núi Tam Điệp, Sở và Lân ra đón đều mang gươm trên lưng mà chịu tội”. Vậy thì làm sao có chuyện Phan Văn Lân hành quân theo Quang Trung để khi đi qua nhà mình thì “xung phong” đem nhà ra đốt để lấy than trộn thuốc súng. Rõ thật là hoang đường. Ấy thế mà không hiểu sao, các tác giả lại ngớ ngẩn tin theo những điều vô lý như thế?

4. Nhân vật Tả tướng quân Trà Lĩnh hầu Phan Văn Đôn tham gia trong đạo quân Vũ Thành của Nguyễn Hữu Chỉnh. Khi Võ Văn Nhậm ra Bắc diệt Chỉnh, đạo Vũ Thành tan rã, có người bị giết, có người theo vua Lê tòng vong, có người lánh về quê, có người theo Tây Sơn dựng nghiệp. Trong rất nhiều vị tước hầu phục vụ dưới triều Tây Sơn, chúng tôi chưa hề gặp một vị nào có tước phong là Trà Lĩnh hầu, hay có tên là Phan Văn Đôn, Phan Đông Hi. Vì vậy chúng tôi không dám chắc rằng ông có theo Tây Sơn hay không? Còn danh tướng Tây Sơn Nội hầu Phan Văn Lân không có liên quan gì đến ông cả. Trong gia phả họ Phan không thấy có người nào tên là Phan Văn Lân được phong tước Nội hầu. Ngược lại, trong sử sách khi ghi về Phan Văn Lân cũng chưa thấy có tài liệu nào ghi ông có tước phong Tả tướng quân Trà Lĩnh hầu. Đây là hai nhân vật hoàn toàn khác nhau và danh tướng Tây Sơn Phan Văn Lân chắc chắn không thể là cháu nội Phan Kính.

*

Tóm lại việc cho rằng danh tướng Phan Văn Lân là cháu nội Phan Kính là một sự bịa đặt, không dựa trên một căn cứ nào cả. Các tác giả bài viết đã nghe những điều bịa đặt  hoang tưởng của một ai đó trong đám hậu duệ họ Phan rồi  sáng tác ra. Để kết thúc bài viết này, chỉ có thể khuyên các tác giả (không ngoại trừ cả các Giáo sư, Tiến sĩ) rằng, lịch sử là một khoa học, rất cần những căn cứ xác đáng, chứ nghe hơi nồi chõ rồi  viết bừa viết bãi thì không chỉ mang tội với tiền nhân mà còn làm trò cười cho thiên hạ.  

PDK.

Chú thích: (1) :Bài báo này ghi tên 2 người nhưng thực chất là của GS TS. Nguyễn Phan Quang. Bởi vì sau đó ông tập hợp lại, in vào các cuốn sách của ông mà không thấy ghi tên ông Trần Ngọc Anh. Hai cuốn sách mà ông Nguyễn Phan Quang có đưa bài này vào  là :

– Theo dòng lịch sử dân tộc (tập 2, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2005)

– Phong trào Tây Sơn và anh hùng dân tộc Quang Trung (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2005)

Xem như thế thì mới thấy những “của giả” mà vị GS này đưa vào sách của ông không phải là ít.

(2) : Tài liệu do ông Phan Xuân Khoáng, hậu duệ  đời thứ 8 của Thám hoa Phan Kính cung cấp.

 

 

 

 

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Con cháu nhặt được ấn rơi, cha ông bỗng thành danh tướng Giới thiệu sách “Hoàng Sa, Trường Sa là máu thịt Việt Nam”

3 phản hồi Add your own

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Mười Hai 2013
M T W T F S S
« Nov   Jan »
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: