Giả thuyết về cội nguồn và hai cuộc thiên di của người Việt

Tháng Bảy 23, 2013 at 3:33 sáng 5 comments

Giả thuyết VỀ CỘI NGUỒN VÀ HAI CUỘC THIÊN DI CỦA NGƯỜI VIỆT –  PHAN DUY KHA

Ban_do_thien_di_nguoi_Viet_co
Từ trước đến nay, khi nghiên cứu về thời kỳ hình thành cộng đồng dân tộc ta, các nhà nghiên cứu đều cho rằng nguồn gốc người Việt được hình thành từ phía Bắc mà trung tâm là vùng Việt Trì, Phong Châu (Vĩnh Phú) rồi tiến dần xuống phía Nam. Quan niệm chung hiện nay đều như vậy. Tuy nhiên, khi tìm hiểu về vùng khu Bốn cũ, chúng ta đều nhận thấy một điều đặc biệt, đó là: cho đến hiện nay, vùng khu Bốn cũ mà trung tâm là Nghệ Tĩnh vẫn còn bảo tồn được nhiều nhất ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống của người Việt cổ. Xin trích một đoạn trong cuốn Chấn hưng các vùng và tiểu vùng văn hóa ở nước ta hiện nay (Huỳnh Khái Vinh chủ biên – NXB Chính trị quốc gia – 1995): “Xét về không gian văn hóa, vùng đất này là nơi gạn lọc và truyền giữ cho mai sau những gì là tinh hoa độc đáo, những gì là bản sắc dân tộc… Vùng Hà Tĩnh vì thế còn giữ được một cách độc đáo nhất vốn từ vựng, lời ăn tiếng nói của cư dân Việt cổ (trang 52-53).

Khi đi sâu tìm hiểu ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, sinh hoạt của vùng Nghệ Tĩnh (nói riêng) và khu Bốn cũ (nói chung), chúng ta thấy có hai điều đáng ngạc nhiên. Một là, sự bảo tồn ngôn ngữ Việt cổ. Hai là, sự trùng hợp kỳ lạ giữa những từ ngữ cổ của vùng Nghệ Tĩnh (nói riêng) và khu Bốn cũ (nói chung) với ngôn ngữ cổ của dân tộc Mường (xem thêm TGM số 158). Phải chăng, như một số tác giả đã giải thích: do điều kiện địa lý vùng Nghệ Tĩnh như một cái cuống phễu, nền văn hóa, phong tục, lối sống của người Việt cổ từ phía Bắc tràn xuống phía Nam, đi qua khu Bốn cũ, gặp cuống phễu (tức địa hình eo hẹp) nên dừng lại và đọng lại ở đây (có thể xem cuốn sách đã dẫn ở trên để rõ hơn về cách giải thích này). Nếu giải thích như vậy thì chúng ta sẽ gặp hai điều bất hợp lý. Một là, nếu coi cội nguồn của người Việt khởi đầu từ phía Bắc rồi tràn xuống phía Nam thì tại sao ở các vùng phía Bắc (trong đó có cả nơi được coi là cái nôi của người Việt cổ là Vĩnh Phú) lại không bảo tồn được phong tục tập quán, lối sống, ngôn ngữ của người Việt cổ như ở vùng Nghệ Tĩnh nói riêng và khu Bốn cũ nói chung? Hai là, ở vùng Nghệ Tĩnh nói riêng, từ xưa việc giao lưu với các vùng khác rất khó khăn do điều kiện thiên nhiên hiểm trở (sách Đại Nam nhất thống chí gọi là tứ tắc, tức bốn bề hiểm trở). Nếu sự giao lưu khó khăn, thì đáng lý ra, việc chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Việt cổ (từ ngoài vào) sẽ ít hơn, mờ nhạt hơn các vùng khác, chứ sao lại đậm đặc nhất, tập trung nhất như nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá?
Để lý giải được những điều bất hợp lý trên, chúng ta không còn cách nào khác là thừa nhận vùng Nghệ Tĩnh nói riêng và khu Bốn cũ nói chung là cái nôi, là nơi phát sinh đầu tiên của người Việt. Lập luận này tưởng chừng như võ đoán nhưng lại là hợp lý. Bởi vì không ở nơi nào lưu giữ, bảo tồn được nếp sống, phong tục tập quán, ngôn ngữ của một dân tộc bằng chính nơi đã phát sinh ra dân tộc đó. Sau đây là một số luận điểm của chúng tôi về vấn đề này:
Bản đồ minh họa hai cuộc thiên di của người Việt trong tiến trình lịch sử
Chúng ta hãy quay trở lại khoảng 5.000 năm về trước ở nơi đã phát sinh ra những cộng đồng người Việt đầu tiên. Đó là vùng sông Mã, sông Cả (tức sông Lam). Lúc này cư dân sống rải rác theo các triền núi, các gò đồi thấp bằng nghề phát nương đốt rẫy. Còn ở vùng đồng bằng là đất sình lầy, chua mặn, hay bị ngập lụt nên chưa được khai phá (việc khai phá vùng đồng bằng được tiến hành muộn hơn so với vùng gò đồi). Từ vùng gò đồi của khu Bốn cũ, cư dân phát triển, tiến dần ra phía Bắc. Theo quy luật chung là phát triển ra bốn phía, nhưng ở trường hợp này phía Đông đã bị biển ngăn cản, về phía Tây bị chặn bởi dãy Trường Sơn (phía Nam, chúng tôi chưa có cơ sở để khẳng định). Về hướng Bắc, người Việt men theo các triền núi thấp, các vùng gò đồi Thanh Hóa, Hòa Bình, tiến dần ra Vĩnh Phú. Tại vùng Việt Trì, Phong Châu (Vĩnh Phú), gặp được vùng gò đồi trung du, đất đai rộng rãi, màu mỡ, rất thuận tiện cho việc phát triển nghề nông (trải hàng ngàn năm canh tác, đất đai mới bạc màu như ngày nay). Gặp điều kiện thuận lợi, người Việt phát triển mạnh và dẩn dần quần tụ ở đây đông đúc hơn, thành một bộ tộc hùng mạnh. Đây là thời điểm ra đời của quốc gia Văn Lang của các vua Hùng (khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên TCN). Cuộc thiên di này kéo dài khoảng vài ngàn năm và là thời kỳ mà Lĩnh Nam chích quái đã ghi lại (theo truyền thuyết): Cư dân sống ven rừng… lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy nước cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, lấy rễ gừng làm muối. Phát nương đốt rẫy, đất sản xuất được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm, bắc cây làm nhà tránh hổ sói .. Dấu vết để lại của vệt thiên di này là những địa bàn cư trú của dân tộc Mường hiện nay. Dân tộc Mường là những người Việt cổ ở lại núi, là hậu duệ của dòng người Việt thiên di đầu tiên này. Điều đó giải thích vì sao có sự đồng nhất giữa ngôn ngữ Việt cổ vùng Nghệ Tĩnh với ngôn ngữ Mường cổ. Chúng tôi gọi đây là cuộc thiên di thứ nhất (trong quá trình một bộ phận cư dân thiên di lên phía Bắc thì một bộ phận khác cũng đã tiến dần xuống đồng bằng, lập thành bộ tộc Việt Thường với trung tâm là Ngàn Hống, có trình độ văn minh cao, đã có chữ viết, như chúng tôi đã đề cập – xem TGM số 158).
Từ vùng Việt Trì, Phong Châu (Vĩnh Phú), người Việt dần dần phát triển xuống đồng bằng (phía Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc đều bị ngăn cản bởi rừng núi hiểm trở). Lúc này kỹ thuật canh tác đã khá hơn, cư dân đông đúc hơn. Đồng bằng là vùng sình lầy, ngập lụt, chua mặn, việc cải tạo khó hơn, nhưng khi đã cải tạo được thì lại mở ra hướng phát triển mạnh cho nghề nông. Đây là thời kỳ mà sách  Thủy kinh chú của Trung Hoa đã từng ghi lại: Thuở xưa Giao Chỉ đất đai có ruộng Lạc, ruộng ấy theo nước thủy triều lên xuống mà làm, dân khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là dân Lạc. Xuống đồng bằng, gặp được châu thổ sông Hồng rộng rãi phì nhiêu, bộ tộc Văn Lang càng mạnh, thu phục dần các bộ tộc khác, tiến dần xuống phía Nam và thu phục luôn nửa phía Bắc của bộ tộc Việt Thường (có thể lúc này đã suy yếu). Từ đó, ông cha ta tiến dần xuống phương Nam cho đến tận mũi Cà Mau. Cuộc thiên di này kéo dài từ thời Hùng Vương (thế kỷ VII – TCN) cho đến khoảng thế kỷ XVII – XVIII, tức khoảng 2.500 năm. Chúng tôi gọi đây là cuộc thiên di thứ hai. Như vậy, vùng Việt Trì, Phong Châu (Vĩnh Phú) là điểm cuối cùng của cuộc thiên di thứ nhất và là điểm khởi đầu cho cuộc thiên di thứ hai. Ý nghĩa của Đền Hùng, vua Hùng, theo chúng tôi là ở chỗ này.
Các nhà nho của ta xưa (và một số nhà nghiên cứu hiện nay) chỉ nhìn thấy cuộc thiên di thứ hai. Vì vậy, họ cho rằng người Việt của ta từ phía Bắc tràn xuống. Vì không giải thích được trước thời các vua Hùng, người Việt đã từng ở đâu, họ bèn suy luận theo lôgíc thông thường cho rằng trước thời vua Hùng, người Việt đã từng ở phía Bắc của vùng Phong Châu – Việt Trì (Vĩnh Phú). Nhưng vì từ Vĩnh Phú ngược trở lên phía Bắc toàn rừng núi hiểm trở, không thuận lợi cho sự sinh tồn và phát triển của dân cư, họ bèn đẩy… nguồn gốc người Việt lên tận hồ Động Đình (Trung Quốc). Động Đình cũng là tên vùng đất tả ngạn sông Hồng từ ghềnh Ngọc Tháp đến ngã ba Hạc. Đây là một vùng đất có nhiều đầm hồ. Có lẽ từ cái tên Động Đình này mà các nhà nho xưa đã hiểu nhầm, tưởng tượng ra vùng hồ Động Đình bên Trung Hoa rồi đồng nhất người Việt của ta với các nhóm cư dân Bách Việt của Trung Hoa chăng? Chính vì vậy, họ “sáng tác” ra việc Kinh Dương Vương làm vua ở châu Kinh, châu Dưỡng bên hồ Động Đình. Chúng tôi cho rằng đây là một sai lầm hết sức lớn của các nhà nho mà trong nhiều bài báo, chúng tôi đã phân tích. Một số nhà nghiên cứu hiện nay của ta cũng đi theo lối mòn của những quan điểm sai lầm này (có thể xem cuốn Việt Nam: Thần thoại và truyền thuyết của tác giả Bùi Văn Nguyên). Cư dân Việt cổ làm sao có thể vượt qua được vùng rừng sâu núi hiểm của Thập vạn Đại sơn của Trung Hoa và vùng núi Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang của ta để chạy dài xuống tận Việt Trì, Phong Châu (Vĩnh Phú)? Trong suốt 1.000 năm Bắc thuộc, dân tộc ta vẫn bám trụ trên đất đai của mình, vậy thì trước đấy hàng ngàn năm sao có thể xảy ra cuộc thiên di ồ ạt như thế? Có ai đuổi chúng ta đâu mà phải bức bách, mạo hiểm vượt qua bao rừng núi hiểm trở như thế. Trong quá trình làm ăn sinh sống, các cộng đồng tộc người có ý thức đi tìm những chỗ tốt hơn, thuận tiện hơn để canh tác. Việc di cư đó tiến hành một cách tự phát với tốc độ rất chậm. Việc các cộng đồng tộc người thiên di là theo lẽ tự nhiên, theo kiểu đất lành chim đậu và kéo dài hàng mấy ngàn năm chứ đâu phải một sớm một chiều. Các nhà nho của ta đã không hiểu được điều này. Vả lại, trong lịch sử, có một số các cá nhân từ Trung Hoa vì một lý do nào đó sang cư trú bên ta rồi lập thành một dòng họ, các nhà nho càng tin người Việt của ta có nguồn gốc từ Trung Hoa. Theo chúng tôi, đây là một quan niệm mơ hồ cần được đính chính” Người Việt là chủ nhân của nền văn minh Đông Sơn rất độc đáo sao lại có thể tìm nguồn gốc ở một nơi nào khác? (xin được nói thêm: các di vật khảo cổ tiêu biểu từ thời đồ đá cũ, qua thời đồ đá mới đến thời đại đồng thau, đa phần nằm trên địa bàn Thanh, Nghệ, Tĩnh như: Núi Đọ, Quỳnh Văn, Đa Bút, Thạch Lạc, Lang Vạc, Đông Sơn, Thiệu Dương…; điều đó càng củng cố quan điểm của chúng ta về nguồn gốc người Việt ỏ ngay trên đất nước ta mà điểm xuất phát là địa bàn khu Bốn cũ).1944857158_4
Hình ảnh của cuộc thiên di thứ nhất còn được lưu lại và truyền thuyết hóa trong một số thần tích, ngọc phả. Không phải vô cớ mà Ngọc phả Hùng Vương lại ghi nhận Ngàn Hống là Kinh đô đầu tiên của người Việt. Lại càng không phải ngẫu nhiên mà một số ngọc phả, thần phả ở đền thờ các nhân vật thời Hùng Vương lại cho rằng Kinh Dương Vương trong thời kỳ đóng đô ở Ngàn Hống đã lập lị cung ở ngã ba Hạc và phái các con mình là Hoàng Trị, Hoàng Tam ra cai trị vùng đất Việt Trì, Phong Châu (Vĩnh Phú). Đây chính là hình ảnh đã được truyền thuyết hóa của cuộc thiên di lần thứ nhất. Chúng ta có thể coi đây là cuộc Bắc tiến chiếm lĩnh dần vùng đồi núi thấp và trung du. Dấu vết để lại của cuộc thiên di này như chúng tôi đã đề cập, đó là vùng cư dân của dân tộc Mường miền Tây Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Vĩnh Phú (xem bản đồ phân bố dân cư hiện nay).
Về cuộc thiên di thứ hai, lịch sử đã ghi lại cụ thể, ở đây không có gì phải bàn thêm. Chúng ta có thể coi đây là cuộc Nam tiến chinh phục dần vùng đồng bằng và ở giai đoạn sau là cuộc mở mang lãnh thổ có ý thức của các triều đại phong kiến Đại Việt.
Chúng tôi cho rằng đây là hai cuộc thiên di cơ bản trong lịch sử dân tộc ta. Tất nhiên, trong mấy ngàn năm dựng nước còn có những cuộc di cư lẻ tẻ tiến dần lên các vùng cao, vùng xa, những cuộc thiên di của các dân tộc anh em để làm nên diện mạo phong phú của đất nước ngày nay.
* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.
*
Xem bài cùng chủ đề:
– Ngọc phả Hùng Vương phản ánh các sự kiện về 18 đời vua Hùng:
– Cố đô Ngàn Hống mở đầu thời đại dựng nước:

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Hành trình tìm kiếm lăng mộ Quang Trung ở Nghệ An- Phượng Hoàng Trung Đô Giả thuyết về sự hình thành và phân bố các làng cổ có tên là “Kẻ”

5 phản hồi Add your own

  • 1. Đỗ Phong. Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội.  |  Tháng Chín 9, 2013 lúc 4:04 chiều

    Tôi rất quan tâm đến các bài viết của ông và cũng đồng tình với ông trên nhiều vấn đề, ví như việc ông phản bác ông Bùi Văn Nguyên…Tuy nhiên, trong vấn đề nguồn gốc và hai cuộc thiên di của người Việt thì tôi hoàn toàn không đồng ý với ông, đươn giản
    vì những kiến giải của ông quá thiếu chứng cứ, vó đoán nên thiếu thuyết phục.Ông chỉ dựa vào một số từ cổ Nghệ-Tĩnh-Bình giống tiếng Mường ( tru/trâu, ló/lúa, nác/nước….)và một số tập tục thì thật không đủ. Tại sao không nghĩ: sở dĩ những tập tục, từ ngữ đó còn được lưu giữ lâu bền ở miền Trung là vì đây là vùng đất xa xôi, hiểm trở, các thời ngoại xâm TQ không/ít vươn tới cai quản chặt chẽ; đồng thời đây là vùng chậm phát triển về kinh tế nên những cái cũ được lưu giữ lâu hơn. Trong khi đó, vùng bắc bộ do hàng nghìn năm Bắc thuộc nên đã bị mai một đi. Mặt khác, do là vùng phát triển sớm, tiếp thu, ảnh hưởng cái mới bên ngoài nhiều nên cái cũ cũng mất đi. Trong điều kiện khuyết sử của nước ta, với những gì có được đến nay, theo tôi, có quá nhiều căn cứ để suy luận một cách có lý rằng lịch sử nước ta là lịch sử thiên di từ Bắc xuống Nam; người Việt ta là một bộ phận của Bách Việt ở miền Nam TQ (đừng vì thế mà cho rằng tôi coi người Việt là gốc Tàu). Nam TQ ngày nay là đất của người Việt ta. Người Việt thua người Hán phương Bắc nên phải chạy dần về phía Nam mà thôi. Ông có thời gian nên sang Quảng Đông tìm hiểu thêm. Ở đó, có rất nhiều thổ âm, thổ ngữ, phong tục, tập quán cổ …giống người Việt ta lắm.
    Cứ mang tâm lý bảo thủ dân tộc, coi nước Việt từ xưa đến nay chỉ bắt đầu từ vùng Tuyên Quang, Yên Bái trở xuống hoặc lấy khu Bốn là vùng khởi nguyên thì có rất nhiều vấn đề lịch sử không thể nào lý giải được, thưa ông. Tỷ như, lý giải làm sao dấu vết Chăm quá đậm từ Thanh Hóa đến Quảng Bình? Hoặc giả, ta nói trống đồng Đông Sơn nhưng số trống Đong Sơn tìm được ở Quảng Tây, Quảng Đông lại nhiều gấp bội ở Việt Nam?v.v và v.v
    Trong một comment khó có thể viết dài. Một vài gợi ý trao đổi, mong ông minh xét.

    Trả lời
    • 2. phanduykha  |  Tháng Chín 10, 2013 lúc 8:31 sáng

      Cảm ơn ý kiến phản hồi rất giàu tính phản biện của bạn. Thực ra thì từ thuở xa xưa, biên giới nước ta về phía Bắc không đóng khung hoàn toàn trong vùng Bắc Bộ hiện nay mà ăn lan sang cả vùng Quảng Đông, Quảng Tây, của Trung Quốc ngày nay. Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, 65 thành trì hưởng ứng cùng nổi dậy, phạm vi không chỉ bó hẹp trong vùng biên giới của chúng ta ngày nay. Điều đó là mọt sự thật nhưng chúng ta đừng nhầm Bách Việt là Lạc Việt, bởi Bách Việt (rất nhiều giống Việt) đã bị người Hán đồng hóa hết. Chứng tỏ họ không phải là những dân tộc giàu bản sắc như ta, nói cách khac, họ không phải là ta. Ta mà cũng như họ thì đã bị Hán hóa từ lâu rồi. Tôi muốn nói đến cái “chất” dân tộc của chúng ta.
      Về nguồn gốc và hai cuộc thiên di của người Việt, tôi không chỉ căn cứ vào một số từ cổ và một số tập tục địa phương rồi kết luận một cách võ đoán như bạn nhận xét. Trong khảo cổ học, người ta cũng đặt vấn đề về sự xuất hiện người Phùng Nguyên ở Trung du Bắc Bộ là từ đâu đến (Văn hóa Phùng Nguyên, cuối thời đại Đồ đá, sơ kỳ Đồ đồng, cách ngày nay 4 ngàn năm, được coi như thời kỳ Tiền Hùng Vương ) và người ta cho rằng gốc của Phùng Nguyên là từ Thanh Nghệ. Điều đó cũng phù hợp với truyền thuyết về thời đại dựng nước, đặc biệt phù hợp với những ghi chép của Ngọc phả Hùng Vương về một Cố đô Ngàn Hống (nay là Hồng Lĩnh, thuộc Hà Tĩnh), trước khi có Kinh đô Văn Lang. Như vậy thì giả thuyết của tôi ít nhất cũng căn cứ trên 5 cơ sở:
      – Thư tịch cổ Việt Nam (Ngọc phả Hùng Vương)
      – Thư tịch cổ Trung Hoa ghi chép về nước Việt Thường ở phía Nam Giao Chỉ đã từng sang cống nhà Chu thời Chu Thành Vương,
      – Truyền thuyết địa phương,
      – Kết quả khai quật khảo cổ,
      – Địa danh và ngôn ngữ cổ địa phương.
      Mời bạn xem Toàn văn Ngọc phả Hùng Vương và các bài: Cố đô Ngàn Hống mở đầu thời đại dựng nước, Giả thuyết về các làng Kẻ, Giả thuyết về Quốc gia Việt Thường đã được đăng trên trang mạng của tôi để rõ thêm về vấn đề này (tôi đã có đường Link để bạn đọc tiện truy cập, hoăc vào mục BÀI ĐỌC NHIỀU đều có các bài này). Vì khuôn khổ một bài báo có hạn mà tôi không thể nhét toàn bộ những vấn đề trên vào một bài được, nên nếu bạn chỉ đọc một bài thôi rồi nhận xét thì sẽ không tránh khỏi phiến diện.
      Thân ái chào bạn.

      Trả lời
  • 3. Đỗ Phong, Mộ Lao, Hà Đông.  |  Tháng Chín 22, 2013 lúc 3:45 chiều

    Một trong những cái khó lớn nhất của những người nghiên cứu lịch sử nước ta là quá thiếu tư liệu và số tư liệu ít ỏi có được cũng lại thiếu sự chuẩn xác cao. Do vậy, việc thu thập, chắp nhặt những mảnh vụn lịch sử đó rồi xâu lại với nhau bằng suy tưởng (có lý và tưởng như có lý )cũng là điều bình thường. Lịch sử Việt Nam thời cận và cả hiện đại còn rất nhiều điều phải bàn cãi huống hồ là thời khuyết sử.
    Thưa ông Phan Duy Kha! Sở dĩ tôi phải rông dài như trên là có ý:
    – Rất chia sẻ với ông tám lòng với dân tộc. Có người tử tế nào mà lại không canh cánh nỗi niềm tìm về ” ngọn nguồn, lạch sông” dòng tộc mình và rộng hơn là đất nước mình.
    – Thông cảm với ông vì quá trình tìm kiếm quá nọc nhằn mà kết quả thu được lại không bao nhiêu.
    Tôi đồng ý với hướng đi của ông nhưng rất tiếc, những căn cứ mà ông dựa vào lại không mấy chắc chắn:
    1/ Bản Hùng Vương ngọc phả mà ông dựa vào chắc là bản Hồng Đức nguyên niên mà giáo sư Ngô Đức Thọ đã dịch. Bản này theo tôi cũng chẳng hơn gì bản Vân Lôi ngọc phả truyền thư vì vẫn cứ bám vào truyền thuyết 18 đời Hùng Vương= 2622 năm với một loạt vị vua trịn vì đến 200 năm!
    2/Thư tịch cổ Trung Hoa ghi chép về Việt Nam thật ra cũng không nhiều hơn những ghi chép về một châu, quận của họ thời xưa (điều này có thể là do tư tưởng nước lớn của họ, coi nước ta là man di, không đáng tốn chữ nghĩa để chép kỹ (cũng còn lý do là trước khi có giấy, phải viết trên tre,lụa-trúc,bạch). Hơn nữa, thời xưa, do đi lại khó khăn nên hình dung về khoảng cách của họ cũng rất thiếu chính xác. Những khái niệm như” nghìn dặm”, ” vạn dặm” có khi chỉ chừng trong ngoài 100km mà thôi.Là tôi nói về cái nước Việt Thường dâng chim trĩ cho Chu Thành Vương đấy.
    3/ Truyền thuyết địa phương thì càng phải chắt lọc thật kỹ. Cái gọi là ” chuyện cổ tích” đôi khi cũng chẳng lâu la gì đâu. Tôi không tin những danh xưng đặc ngữ pháp Hán như Kinh Dương Vương (vua đất Kinh Dương), Hùng Hiền Vương, Hùng Quốc Vương…lại do người Lạc việt tự đặt cách đây 4000 năm mà có lẽ là do ông Lê Văn Hưu rối sau đó là Ngô Sĩ Liên đặt ra trên cơ sở thu gom truyền thuyết mà thôi.
    4/Kết quả khai quật khảo cổ là rất đáng tin cậy nhưng tiếc rằng những hiện vật thu được từ các di chỉ không nhiều, cũng chỉ đủ cho những suy luận mà thôi.
    5/ Địa danh, ngôn ngữ cổ: tôi đã đề cập còn ông nói các làng gọi là Kẻ tập trung nhiều ở Thanh-Nghệ e không hẳn đúng. Quê tôi, vùng Quốc Oai-Thạch Thất 100% số làng đều gọi là Kẻ cả.Ông cứ quá bộ đi 15 km theo đại lộ Thăng Long là gặp ngay kẻ Gồ, kẻ Thày, kẻ Than, kẻ Núc, kẻ Nủa…
    Nhân tiện, cũng nói thêm, tôi không bao giờ đánh đồng Lạc Việt với Bách Việt cả. Cũng xin nói thêm một ý: ngay người Phúc Kiến, Chiết Giang, Quảng Đông…họ cũng không bị Hán hóa cả đâu và ngược lại, người Lạc Việt chúng ta cũng đâu có giữ gìn được đầy đủ bản sắc. Xin lỗi, tôi nói thật và khách quan, dừng cho là ” thân Tàu” ông nhé!
    Kính chào ông!

    Trả lời
    • 4. phanduykha  |  Tháng Chín 23, 2013 lúc 1:22 sáng

      Những nhận xét của bạn nói chung tôi đều nhất trí. Tìm về cội nguồn dân tộc là một việc làm rất khó, cũng ví như mò kim đáy bể. Từ những tín hiệu rất ít ỏi rồi mỗi người suy luận theo một cách, làm sao có thể thống nhất được (thế mới gọi là giả thuyết!). Đó là tình hình chung khi nghiên cứu cổ sử Việt Nam. Tôi cũng không hy vọng tất cả mọi người đều đồng tình với quan điểm của mình.
      Riêng về điểm 1 trong nhận xét của bạn, cho rằng Ngọc phả Hùng Vương chẳng khác gì Ngọc phả ở Cổ Lôi, bạn có thể xem thêm một số bài tôi phân tích về bản Ngọc phả này để thấy được sự bịa đặt giả mạo của nó. Trong một phần trả lời Comment như thế này không thể nói hết được. Mời bạn xem thêm những bài này của tôi, ở đó tôi đã phê phán những người lấy tư liệu từ Cổ Lôi, để chứng minh về lịch sử Việt Nam:
      – Triệu Đà là con cháu của vua Hùng, một “giả thuyết” kỳ cục của GS Bùi Văn Nguyên
      – Những công bố kỳ cục, những câu chuyện kỳ khôi cười ra nước mắt
      – Câu chuyện lùm xùm về một cuốn ngụy thư (sách dởm)
      – Vấy bùn vào lịch sử lại là người có học hàm, học vị
      Ở điểm 5, quê bạn vùng Quốc Oai, Thạch Thất thì đúng là vùng đất cổ rồi. Ở đây đa phần các làng mang tên là Kẻ là điều hoàn toàn chính xác, không có gì phải bàn cãi. Nếu vùng quê bạn mà không có các làng Kẻ, mới là điều lạ.
      Thân ái chào bạn.

      Trả lời
  • 5. Những vấn đề Lịch sử và Phản biện | Phan Duy Kha  |  Tháng Một 22, 2015 lúc 4:22 sáng

    […] – Giả thuyết về cội nguồn và hai cuộc thiên di của người Việt […]

    Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Bảy 2013
M T W T F S S
« Jun   Aug »
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: