Viết nhân ngày 8/3: Những nữ tướng già của Hai Bà Trưng

Tháng Ba 8, 2013 at 8:08 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

                                                                                   200px-Dongho_haibatrung

Chúng ta gọi họ là những nữ tướng già vì con của họ đã là các tướng. Nếu chúng ta coi đa phần các nữ tướng của Hai Bà ở độ tuổi  20 – 25 tuổi thì các nữ tướng già cũng ở độ tuổi 40 – 50 tuổi. Cần nhớ rằng, ngày xưa người ta quan niệm “Trai 30 tuổi đang xoan, gái 30 tuổi đã toan phận già”, thì ở cái tuổi 40- 50, các bà đã là những người già thật. Lại cần nhớ thêm rằng, ngày xưa đánh trận là gươm giáo, cung tên, là giáp lá cà thì ở tuổi phụ nữ như các bà, xông ra trận tiền đánh giặc là hành động phi thường.

Bà Man Thiện, mẹ của Hai Bà Trưng.

Theo thần tích, Hai Bà Trưng là hai chị em sinh đôi, sinh năm 14, vào năm 40, khi phất cờ khởi nghĩa đã 26 tuổi. Lại theo thần tích thì hai ông bà Hùng Định – Man Thiện hiếm muộn con. Vậy thì khi phất cờ khởi nghĩa, bà Man Thiện ít nhất cũng đã ngoài 50 tuổi.

Chồng qua đời sớm, bà một mình nuôi con khôn lớn. Bà mời hai vợ chồng ông Đỗ Năng Tế – Tạ Cẩn Nương về nhà dạy dỗ cho hai con cả văn và võ. Lớn lên hai chị em đều là những người tài sắc, giỏi võ nghệ và có chí lớn. Sử sách ghi chép rằng, “ Trưng Trắc là người rất có tiết nghĩa, tính khí hùng dũng, quyết đoán, sáng suốt”, cũng là do ảnh hưởng phần lớn từ bà mẹ.  Lớn lên, bà Trưng Trắc kết duyên cùng ông Thi Sách, huyện lệnh huyện Chu Diên . Tuy nhiên , theo phong tục thời bấy giờ, hai ông bà vẫn ở hai nơi, như là những vị thủ lĩnh của hai địa phương riêng biệt.

Vào năm 34 công lịch, Hán Quang Võ cử Tô Định sang làm Thái thú Giao Chỉ thay Tích Quang. Vốn là một tên quan tham lam, hà khắc, Tô Định một mặt ra sức bóc lột vơ vét của cải của nhân dân ta. Mặt khác đàn áp dã man tàn bạo những ai có ý định chống lại hắn. Lòng dân căm phẫn cao độ. Ở Chu Diên ông Thi Sách dựng cờ khởi nghĩa , bị Tô Định hãm hại.

Mang nặng nợ nước thù nhà , Hai Bà Trưng quyết định khởi nghĩa.  Tháng 2 Canh Tý (năm 40 công lịch), Hai Bà hội quân trên bãi Trường Sa thuộc Hát Môn (cửa sông Hát, nay thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội), anh hùng hào kiệt khắp nơi kéo về tụ nghĩa. Đó là các nữ tướng : Thánh Thiên, Lê Chân, Thục Nương, Lê Thị Hoa, Phùng Thị Chính, Xuân Nương, Thiều Hoa, Phương Dung, Nàng Quốc, Hàn Quỳnh Nương …  Có một số nam tướng cũng theo về dưới cờ, có nhiều người giả gái để dễ được nhận vào đội ngũ. Bà Man Thiện chỉ huy 7 vạn quân bản bộ (theo Thần tích) là một lực lượng lớn đóng góp vào đội quân của Hai Bà. Đây là một trường hợp đặc biệt , duy nhất trong lịch sử cổ kim: Bà mẹ đứng dưới cờ của hai con, làm một viên tướng dưới quyền sai phái của hai con. Bà còn là người nhận lãnh trách nhiệm thay mặt hai con, gặp gỡ, liên kết các hào kiệt trong nước.

Từ Hát Môn, quân ta vượt sông Hồng, tiến về Luy Lâu (vùng Dâu ,Thuận Thành ngày nay) thủ phủ của Tô Định. Quân ta đi đến đâu, giặc chạy tan tác đến đấy. Tô Định hốt hoảng cắt râu, cạo tóc, trốn khỏi thành, chạy về Trung Quốc. Giao Chỉ được giải phóng. Nhân dân ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Nam Hải, Hợp Phố đều nổi dậy hưởng ứng. Ta làm chủ được 65 thành trì. Bà Trưng Trắc được tôn lên ngôi vua, hiệu là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh:

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

Bà Man Thiện được phong làm Man Hoàng hậu. Trưng Nhị được phong làm Bình Khôi công chúa. Các tướng lĩnh đều được phong và chia đi đóng giữ các nơi. Tuy được phong là Man Hoàng hậu nhưng bà Man Thiện không ở lại kinh đô Mê Linh tham gia trong triều đình của con mà đem quân bản bộ trở về Nam Nguyễn quê hương lập đồn bốt , làm chỗ dựa cho hai con.

Tháng 1 Nhâm Dần (năm 42 công lịch) tên tướng già Mã Viện vâng lệnh vua Hán kéo sang nước ta. Giặc theo đường biển đánh vào Lãng Bạc (vùng Lục Đầu- Phả Lại ngày nay). Hai Bà tập trung quân đánh một trận lớn. Mã Viện là một tên tướng già, lão luyện. Hai Bà cự không nổi, phải lùi về Mê Linh. Từ Mê Linh lại rút về Cấm Khê (tức Kim Khê) thuộc vùng núi Ba Vì ngày nay. Bà Man Thiện đem toàn bộ quân bản bộ đón đánh giặc một trận lớn trên sông Hồng, nguyện liều mình cản đường tiến của  giặc để bảo vệ hai con rút lui an toàn. Do chênh lệch về lực lượng, quân ta bị thua. Bà Man Thiện bị thương nặng. Quyết không để sa vào tay giặc, bà nhảy xuống sông Hồng tự vẫn. Xác bà trôi về bến Cốc làng Nam Nguyễn quê hương. Nhân dân địa phương thương tiếc vớt lên chôn cất và lập miếu thờ. Mộ bà trên gò đất cao, nơi trước kia là quân doanh của bà, gọi là Mả Dạ. Miếu thờ bà cách đó không xa, gọi là Miếu Mèn, nay vẫn còn ở Nam Nguyễn (nay là Thịnh Thôn, Cam Thượng, Ba Vì, Hà Nội.)

Bà Lê Thị Hoa: Cả 5 mẹ con đều làm tướng

Bà Lê Thị Hoa quê ở thôn Thượng Linh, huyện Thiên Bản, (nay thuộc xã Đại Thắng, Vụ Bản, Nam Định), là người xinh đẹp, giỏi võ nghệ. Năm 18 tuổi, bà kết duyên cùng ông Mai Tiến, người làng Bách Cốc, cùng huyện. Hai ông bà sinh được 4 người con trai là Mai Viết Đạt, Mai Trọng Thỏa, Mai Văn An và Mai Đức Trí. Khi người con út Mai Đức Trí lên 12 tuổi là năm Kiến Võ thứ 14 (tức năm 34), Tô Định sang thay Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ. Trước ách cai trị tàn bạo của Tô Định, Mai Tiến trong lòng căm uất, thường tổ chức săn bắn để tìm người cùng chí hướng, liên kết lực lượng chống giặc. Việc đến tai Tô Định, y liền lừa Mai Tiến về phủ lỵ mà giết đi. Bà Lê Thị Hoa nghe tin chồng bị hại bèn tập hợp lực lượng trong vùng nổi dậy chống lại. Như vậy, bà Lê Thị Hoa nổi dậy chống giặc Hán trước Hai Bà Trưng đến 6 năm. Giặc đem quân về đánh nhiều lần, đều bị bà chỉ huy nghĩa quân đánh cho đại bại.

Giặc cậy đông, bao vây bản doanh nghĩa quân, bà chỉ huy nghĩa quân rào làng chiến đâu. Nghĩa quân đắp lũy đất quanh các bờ tre, rồi đào hào rộng bao quanh, đường vào làng có cổng lớn án ngữ, cổng làng đắp đất, ngoài ghép đá hộc, trên có vọng lâu, đặt cung nỏ, gạch đá, mé trong cổng rào nhiều lớp cánh gà, phòng khi giặc phá được cánh cổng thì nghĩa quân từ trong lớp cánh gà sẽ dùng giáo dài diệt chúng. Như vậy, thực chất bà Lê Thị Hoa đã biến làng mình thành một tòa thành cố thủ vững chắc, giặc không có cách nào phá được. Tuy nhiên, giặc dùng nhiều quân, bao vây liên tục, hòng cô lập nghĩa quân trong ngôi làng nhỏ đã biến thành tòa thành này. Để có lương thực, nghĩa quân đã phải mở cánh cổng liều mình xông ra hỗn chiến với giặc để cho một số người tranh thủ gặt lúa. Một lần, đang hỗn chiến để gặt lúa, giặc bất ngờ tấn công vào làng, một trận huyết chiến xẩy ra ngay tại cổng làng, hai bên đều bị thương vong nặng. Sau 8 tháng với nhiều trận giao tranh với giặc, nghĩa quân mười phần không còn được một, lương thực hết, bà Lê Thị Hoa quyết định bỏ căn cứ Thượng Linh, tìm căn cứ mới, xây dựng lại lực lượng. Vào một đêm, nghĩa quân bí mật bỏ căn cứ, chạy vào rừng núi Tam Điệp. Bà tìm một nơi thâm u hẻo lánh giữa rừng sâu, cho quân dựng trại làm nhà, vỡ hoang cấy lúa, trồng màu, khôi phục lại lực lượng. Nơi ấy sau này thành một làng lớn, đó là làng Yên Nội (nay thuộc Nga Sơn, Thanh Hóa).  Bà Lê Thị Hoa vừa tổ chức cho quân vỡ hoang, trồng cấy, vừa tổ chức luyện tập võ nghệ, củng cố lực lượng, chờ đợi thời cơ.

Năm 40, nghe tin Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn, lúc này con trai út của bà đã 18 tuổi (như vậy lúc này bà Lê Thị Hoa ít nhất cũng gần 50 tuổi), bà cho 4 con trai làm tả hữu tiên phong, đem hai đạo quân đi trước, bà chỉ huy hậu đội tiến sau. Từ Yên Nội, ba đạo quân của bà tiến ra đánh chiếm vùng Thiên Bản, nơi quê cũ mà 6 năm trước bà đã phải rút đi. Quân của bà tiến đến đâu, giặc tan rã, bỏ chạy tới đó. Quân bà thừa thắng tiến thẳng ra Luy Lâu, hội quân với Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa thành công, Bà Trưng lên làm vua, bình công phong thưởng cho các tướng sĩ, 5 mẹ con bà không nhận quan tước mà xin về Yên Nội khai hoang. Bà Lê Thị Hoa bị bệnh mất vào ngày 25.2 Nhâm Dần (năm 42 công lịch). Vua Trưng rất thương xót, phong bà là Từ Thiện phu nhân và cho lập đền thờ ở làng Yên Nội (Nga Sơn, Thanh Hóa) để thờ bà.

Bà Hàn Quỳnh Nương: 6 mẹ con, cô cháu đều làm tướng.

Bà là con gái một viên huyện lệnh, ở trang Linh Xá, huyện Vĩnh Ninh, phủ Thiệu Thiên, vợ quan chúa bộ Hải Dương Lê Công Bình. Đứng trước sự tàn bạo của Tô Định,  Lê Công Bình quyết định nổi dậy khởi nghĩa. Kế hoạch bị lộ, ông bị Tô Định giết chết. Hai ông bà sinh đôi được hai gái là Lê Minh Nương và Lê Đậu Nương đang ở tuổi đôi mươi. Giặc đem quân về quê ông, định bắt giết Hàn Quỳnh và hai con gái. Do có người báo trước nên ba mẹ con đã  trốn thoát an toàn đến nhà anh trai bà là ông Hàn Đạt đang dạy học ở trang Văn Bút, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân, trấn Sơn Nam. Vợ chồng ông Hàn Đạt có ba người con trai đều khôi ngô tuấn tú, võ nghệ tinh thông, thân thể cao lớn, đó là các ông: Hàn Sanh, Hàn Hãn và Hàn Già. Căm thù giặc sâu sắc, ba anh em họ Hàn cùng đồng tâm với cô ruột và hai người em họ, đã đi vận động được trên 1.000 nghĩa quân, chuẩn bị nổi dậy. Trong lễ tế cờ, nghĩa quân tôn bà Hàn Quỳnh làm chủ tướng, chia quân làm 5 đạo, Hàn Sanh, Hàn Hãn, Hàn Già, Lê Minh, Lê Đậu mỗi người chỉ huy một đạo quân. Tô Định mấy lần phái quân đến đánh đều thất bại.

Mùa Xuân năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, Quỳnh Nương giao 500 quân lại cho Hàn Hãn, Hàn Già và Đậu Nương, tiếp tục duy trì khởi nghĩa, còn mình cùng với Hàn Sanh, Minh Nương đem 500 quân bản bộ về Hát Môn tụ nghĩa. Tại đây, Bà Trưng phong Hàn Quỳnh làm Quân sư, Hàn Sanh được phong làm Nguyên soái, Hàn Hãn làm Tiên phong tiền quân, Hàn Già làm Thôi đốc binh lương, Lê Minh làm Hộ giá tòng chinh tướng quân, Lê Đậu giỏi thủy chiến, được phong làm Sát đốc thủy tào tướng quân. Như vậy là bà Hàn Quỳnh Nương, cả con và cháu đều trở thành những viên tướng dưới cờ Hai Bà Trưng. Cứ cho rằng, các con gái của bà năm ấy mới 20 tuổi (tuổi trẻ nhất để có thể làm tướng) thì bà Hàn Quỳnh lúc ấy đã trên dưới 40 tuổi.

Sau khi nhận chức tước của Hai Bà, bà Hàn Quỳnh cùng con cháu lại đem quân trở về địa phương, phát triển lực lượng. Từ Nam Xang, quân khởi nghĩa đánh ra Lý Nhân, Sơn Nam, rồi ngược sông Hồng đổ bộ lên bến Bồ Đề, rồi tiến sang bao vây thành Luy Lâu, góp phần vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Sau khi giành thắng lợi, Bà Trưng Trắc lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Bà Hàn Quỳnh lấy cớ tuổi cao, không tham gia chính sự, mà xin về trang Văn Bút cùng nhân dân khai hoang, lập ấp, đắp đường, mở chợ, tạo cho nơi này trở thành một vùng dân cư trù phú, đông đúc. Bà mất trong một lần về thăm quê cũ ở trang Linh Xá, vào ngày 10.3 âm lịch (thần tích chỉ ghi ngày tháng mà không ghi năm mất, nhưng lúc này Bà Trưng đang nắm quyền trị nước). Trưng Vương phong bà là Quốc Mẫu, hạ chiếu cho trang Văn Bút lập đền thờ bà.

Đất nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc dài lâu, nhiều khi hai ba thế hệ cùng ra trận đánh giặc, là chuyện thường gặp. Cũng có những trường hợp như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cả 5 cha con đều làm tướng, tuy nhiên, trường hợp đó là rất hiếm. Còn việc cả mấy mẹ con cùng làm tướng ra trận như trên là rất hiếm hoi, không chỉ ở nước ta, mà có lẽ cả trong lịch sử nhân loại. Đó là một điều đặc biệt của thời kỳ Hai Bà Trưng: Thời kỳ mở đầu trang sử chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc ta. Câu tục ngữ “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, không chỉ “cũng đánh” mà còn “đánh trước”, thật là vẻ vang thay  phụ nữ Việt Nam !

PDK

Advertisements

Entry filed under: Uncategorized.

Họp mặt đồng hương Song Lộc tại Hà Nội, 2013 Hội đồng hương huyện Can Lộc tại Hà Nội gặp mặt đầu năm 2013

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Ba 2013
H B T N S B C
« Th2   Th4 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Most Recent Posts


%d bloggers like this: