Ai xây Loa Thành: Vua Hùng hay vua Thục ?

Tháng Một 7, 2013 at 11:53 sáng 6 comments

                                                                           Phan Duy Kha

Đôi lời bộc bạch trước khi vào bài: Tôi không phải là người thích những chuyện giật gân gây sốc. Vì vậy mà, với thông tin này tôi đã phải gác lại, mặc dù tôi đã tiếp xúc với bản dịch Ngọc phả Hùng Vương hơn một năm trời nay. Ngay khi viết bài giới thiệu về Ngọc phả Hùng Vương đăng 5 kỳ trên báo KH & ĐS, tôi cũng để lại chi tiết này. Và, trước khi gửi bài này để đăng, tôi còn đến gặp GS Ngô Đức Thọ, người dịch Ngọc phả để ông xác nhận cho rằng, ông không nhầm lẫn. Tại tư gia của GS Ngô Đức Thọ, ông cầm văn bản chữ Hán cuốn Ngọc phả Hùng Vương dịch trực tiếp, còn tôi thì cầm bản dịch được  in vi tính để so sánh. Những chỗ cần sửa, ông cầm bút mực màu đỏ, chữa lên bản in của tôi rồi ký tên bên cạnh. Ông bảo: Tôi xác nhận với anh là chính tôi sửa những chữ này, thế là được chứ! Và thế là tôi an tâm. Khi công bố những thông tin này, tôi trích dẫn Ngọc phả Hùng Vương nhiều hơn, cốt để thực sự trung thành với văn bản, không phải qua lăng kính cảm nhận hay suy luận chủ quan của người viết.

*P1060920

Chuyện tưởng chừng như không còn phải bàn cãi. Xưa nay, sử sách của ta đều ghi rằng vua Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Đại Việt sử ký toàn thư và Lĩnh Nam chích quái đều ghi như thế. Đại Việt sử lược tuy không ghi cụ thể nhưng có câu: “Phán đắp thành ở Việt Thường, hiệu là An Dương Vương”, thì người ta cũng hiểu, thành ở Việt Thường cũng là thành Cổ Loa. Những chi tiết như Rùa Vàng hiện lên bày cho vua cách xây thành, Rùa Vàng rút móng cho vua để chế tạo nỏ thần.v.v… đều được cho là xẩy ra dưới thời vua An Dương Vương. Tuy nhiên, có một tài liệu không cho là như thế. Đó chính là Ngọc phả Hùng Vương.HVNP PT 18bHVNP PThọ 19a

Theo Ngọc phả Hùng Vương thì việc xây thành Cổ Loa, chuyện Rùa Vàng bày cho vua cách xây thành, Rùa Vàng rút móng tặng vua làm lẫy nỏ đều xẩy ra dưới thời Hùng Vương thứ 18, Hùng Tuyền Vương (sử sách của ta thường chép là Hùng Duệ Vương). Sau khi vua Hùng nhường ngôi cho vua Thục thì cũng tặng vua Thục chiếc nỏ thần, có lẫy làm bằng móng rùa, một  loại trang bị kỹ thuật hiện đại nhất, thứ vũ khí cực kỳ lợi hại thời bấy giờ. Sau đây là câu chuyện xẩy ra dưới thời Hùng Tuyền Vương, ghi theo Ngọc phả :

“Hùng Tuyền Vương hưởng nước 115 năm rồi nhường ngôi cho rể là Sơn Tinh Tản Viên. Sơn Tinh cố từ không dám nhận. Tuyền Vương nói:

–  Cơ đồ họ Hùng đã hết, khanh có thể lên thay.

Tản Viên còn do dự chưa quyết thì Thục Vương (là chúa phụ đạo nước Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương) từ xa nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho Tản Viên, bèn đem quân sang đánh Tuyền Vương để xâm chiếm nước Nam.

Vua binh hùng tướng mạnh, Thục Vương mấy lần bị đánh bại.Vương bảo với Thục Vương: “Ta có sức thần, Thục Vương không sợ sao?”.

Từ đó Tuyền Vương bỏ bễ, không chăm sửa sang võ bị, chỉ đam mê tửu sắc làm vui. Đến khi quân Thục kéo đến tận nơi, vua vẫn say mềm chưa tỉnh. Quân lính trở giáo đầu hàng quân Thục.

Hùng Vương bèn đắp thành ở Việt Thường rộng nghìn trượng, khoanh tròn như hình con ốc, gọi là Loa Thành. Mới đầu thành đắp đến đâu đổ đến đấy. Bỗng thấy một con Rùa Vàng trên sông từ phía đông bơi đến, xưng là Giang Sứ. Hùng Vương lấy mâm vàng đặt rùa lên đấy rồi hỏi rùa vì cớ gì mà thành đắp cứ đổ mãi. Rùa Vàng đáp: “Đó là do quỷ hại. Phải trừ tinh khí của nó đi thì thành tự nhiên đắp xong” (1).

Thế rồi Tuyền Vương làm theo lời Rùa Vàng, trừ được tinh quỷ (chứ không phải tinh gà trắng như trong chuyện vua Thục sử sách vẫn ghi), quả nhiên, sau nửa tháng thì thành đắp xong. Rùa Vàng bèn từ tạ ra đi. Trước khi đi cũng rút một chiếc móng đưa cho Tuyền Vương để làm lẫy nỏ. “Tuyền Vương bèn sai bề tôi là Cao Lỗ chế nỏ thần, lấy chiếc vuốt thiêng làm máy, đặt tên là “Linh hoa kim trảo thần nỗ”. Sau khi có nỏ thần, Hùng Tuyền Vương thu họp tàn quân, tuyển thêm dân binh, rồi sai người đưa thư cho Tản Viên, nói: “Thục Vương đem binh sang đánh, đã chiếm đô thành của ta, khanh mau đem quân đến cứu viện”. Tản Viên bèn dẫn binh mã thẳng đến Loa Thành, dàn quân đối trận với Thục Vương để khuếch trương thanh thế. Mấy hôm sau, Tản Viên khuyên Hùng Vương: “Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài.Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm lấn nước ta. Vả lại, Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của tiền hoàng đế. Nay quốc thế không được bình thường, cũng là do tiền định. Vua có yêu riêng gì một cõi đất phương nam mà cưỡng lại ý trời, làm hại sinh linh? Vả lại, bệ hạ và thần có phép thần tiên, không gì hơn là quay về chốn Bồng Hồ, Lãng Uyển, tiêu dao ở làng quê bất lão, thanh nhàn nơi gác phượng lầu rồng, há phải nhiễm bẩn bụi trần, vàng ngọc châu báu cũng chẳng bằng mảy lông, ngọc nữ tiên đồng cũng chỉ mát mắt chốc lát.Trí lự như thế mới thật là cao !”

Tuyền Vương cho là phải, rồi Tuyền Vương sai đưa thư nhường nước cho Thục Vương. Tuyền Vương nhân đó tặng cho Thục Vương chiếc nỏ thần, rồi trở về núi Nghĩa Lĩnh cùng với Tản Viên Sơn Tinh biến hóa vào cõi hóa sinh bất diệt”.

Vua Thục được nhường ngôi, lại được tặng nỏ thần, vô cùng cảm kích, đã về núi Nghĩa Lĩnh dựng đài phụng thờ và dựng hai cột đá thề trên núi như chúng ta đã biết.

Về việc Triệu Đà cho Trọng Thủy sang ở rể, Ngọc phả cũng viết khác: “Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang giao chiến với An Vương. An Vương lấy nỏ thần ra bắn, Triệu Đà thua trận bỏ chạy. Đà biết Thục có nỏ thần, không thể đối địch được, bèn cho con là Trọng Thủy vào làm lính hầu (túc vệ) trong cung An Vương. Rồi Trọng Thủy cầu hôn vương nữ Mỵ Châu. Trọng Thủy dụ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem rồi tháo đổi cái lẫy khác. Sau đó Thủy về báo cho cha biết. Triệu Đà bèn phát binh đánh An Vương. An Vương không ngờ cái lẫy thiêng đã bị mất, khi ấy đang đánh cờ vây, cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Quân Triệu Đà vây đến nơi, An Vương lấy nỏ ra bắn, không hiệu nghiệm. An Vương bẻ nỏ vứt đi rồi lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất”. Ở đây chúng ta thấy, lúc đầu Trọng Thủy sang với triều đình An Vương chỉ như một người dân bình thường, chứ không phải tự nhận là con Triệu Đà. Có như thế y mới được nhận làm lính hầu, mới dễ bề hoạt động gián điệp. Còn nếu triều đình An Vương biết Trọng Thủy là con Triệu Đà (tức là con của kẻ đang đối địch) thì có hai khả năng xẩy ra: một là, nếu có ý cầu hòa, An Vương sẽ bố trí cho y một chức vụ cao hơn nhiều trong triều đình để mua chuộc y; hai là, nếu không có ý cầu hòa thì không nhận cho y ở trong cung. Chi tiết này xem ra hợp lý hơn những điều từng ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư hay Lĩnh Nam chích quái.

Xưa nay chúng ta đều quen với chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa, An Dương Vương được tặng móng rùa, đã sai Cao Lỗ chế nỏ thần. Đây là lần đầu tiên được tiếp cận một thông tin khác. Tất nhiên, chúng ta chưa thể khẳng định những hiểu biết xưa nay là sai, hay Ngọc phả Hùng Vương chép sai. Chúng ta chỉ có thể ghi nhận rằng, có một thông tin như thế , một văn bản như thế đã được viết từ thế kỷ 15, thời vua Lê Thánh Tông, để sau này còn tìm hiểu thêm. Tuy nhiên, chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, cho dù Hùng Vương hay Thục Vương thì việc xây Loa Thành và phát minh ra chiếc nỏ là  những thành tựu kỹ thuật đỉnh cao của người Việt cổ mà tòa thành kỳ vĩ kia và những mũi tên đồng trong các di chỉ khảo cổ, đặc biệt là kho mũi tên đồng hàng vạn chiếc khai quật được ở Cổ Loa chính là minh chứng (2) . / .

PDK.

Chú thích: (1): Những đoạn để trong ngoặc là nguyên văn Ngọc phả Hùng Vương, bản dịch của GS Ngô Đức Thọ.

(2): Bài này được đăng trên báo KH & ĐS và trên Kienthuc.net với nhan đề: Thục Phán không phải là người xây Loa Thành, được đăng làm 2 kỳ (Ảnh: Trang 1 tờ báo KH & ĐS)

Ảnh:  Hai trang Ngọc phả, đề cập đến việc Hùng Tuyền Vương xây thành Cổ Loa.

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Hiểu thế nào về Ngọc phả Hùng Vương Lục độ tập kinh và sự tích trăm trứng

6 phản hồi Add your own

  • 1. Trân Lang  |  Tháng Một 18, 2013 lúc 2:43 chiều

    Về vấn đề của bài viết, tôi có thắc mắc cần tìm hiểu:
    -Thứ nhất, về quyển sách “Ngọc phả Hùng Vương”: chất liệu giấy, niên đại của sách có độ tin cậy không. Nếu là gần đây thì đã được tam sao thất bản
    -Thứ hai, nguồn gốc xuất xứ của sách: ai chép, ai giữ, có khi nào bị thất lạc không hay người nào mang từ TQ về “trả” như quyển “Việt sử kí” vô danh?
    -Thứ ba, tên gọi của các nhân vật, các chi tiết có khác gì so với bản khác? Tại sao lại khác nhiều thế.
    -Cổ Loa không có nghĩa là thành ốc mà chính là thành “Rùa-chủ-chúa”. Có nhiều thành giống hệt Cổ Loa về cấu trúc, thời đại và di vật (Điện Biên, Vân Nam, Yên Bái..)
    -Tại sao tiền bối thì lại nói Triệu Đà là vị hiền quân, con cháu sau này thì lại cho là giặc? Giặc gì mà ru rú ở xó nhà (Tiên Du)? Mà từ “Tiên Du” là nơi tiên ở, một âm khác chính là “thiền vu -tiên âu -tiêu-Triệu-Châu”.
    -Về Thục Phán: âm “Phán” khi phục âm cổ, âm phương ngữ thì chính là “văn, vạn, bảo, tuyên, truyền, tuyền, cáo” đều liên quan đến ngôn ngữ, chữ nghĩa cả???Các vùng có thành cổ như Cổ Loa đều gọi là thành “Việt Vương, Tư Long thành, Loa thành, Thục vương thành”. Còn thành của Triệu Đà xây ở Quảng Châu thì dân vẫn gọi truyền kiếp là thành nhà Tần?
    -Vô lí của sách này ở chỗ: Sơn Tinh được nhường ngôi nhưng lại khuyên vua nhường ngôi cho Phán? Quả thật là ngớ ngẩn. Tản Viên có tên là Nguyễn Tuấn, nếu đổi sang họ Lí là Lí Tuấn (Tú). Và đồ đồng đều có liên quan đến TRiệu Đà, Lí Gia, Lý Văn Sơn, Tây Âu, An Dương Vương. Phải nói rằng thời này thật kì lạ, rắc rối. Nếu ADN của ông vua ở Quảng Châu được xác định không phải Gien của người Hán (Hồ Bắc) thì sao?
    Các chữ “Hán” xưa nay dịch thuật cũng chưa hẳn là chính xác. Ví dụ: “Gia Cát Lượng” thì “Gia” sẽ đọc là “Che-chư-Chơ” và một âm nữa chính là “Nhà-Nhã – Giạ -Dạ”. Hay “khảm” -quẻ khảm là lời nói thì chính là “tiếng-lời-nói” của tiếng Thái-Tày! Chính vì vậy, Tần vương hay Tản Viên, Đinh Vương, Thần Vương, Tịnh vương là các biến âm của một từ mà thôi. Còn tiếp nữa…

    Trả lời
    • 2. phanduykha  |  Tháng Một 19, 2013 lúc 1:17 sáng

      Cảm on những nhận xét của bạn. Về vấn đề Văn bản Ngọc phả Hùng Vương, mòi bạn đọc trang mạng của GS Ngô Đức Thọ, ông là chuyên gia Hán Nôm. Tại Blog của ông, ông có phân tích đầy đủ về tình trạng văn bản, kiểu chữ … và nhiều chi tiết khác mà tôi không đưa vào bài viết của mình. Bạn hãy xem kỹ 2 bài phân tích về văn bản của GS Ngô Đức Thọ đã, những chi tiết khác chúng ta sẽ bàn sau.
      Chò thân ái.

      Trả lời
  • 3. phuongcacanh  |  Tháng Hai 25, 2013 lúc 10:24 sáng

    Bác Trân Lang ! Nhàn đàm ấy mà.

    Trả lời
  • 5. Trần Đại Sĩ  |  Tháng Mười Hai 1, 2014 lúc 4:45 chiều

    Làm túc vệ không phải làm một tên lính bình thường đâu. Triệu Anh Tề (con Triệu Hồ, cháu nội Trọng Thủy) đường đường là thái tử mà cũng vào cung Hán làm túc vệ. (Sao ông cháu nó thích làm túc vệ vậy nhỉ ? Có điều ông nội nó lừa người khác, lấy nước người ta, còn nó bị người ta lừa mất nước)

    Trả lời
    • 6. phanduykha  |  Tháng Mười Hai 6, 2014 lúc 12:58 sáng

      Xin lĩnh giáo. Cảm ơn ông

      Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Một 2013
M T W T F S S
« Dec   Feb »
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: