Hiểu thế nào về Ngọc phả Hùng Vương

Tháng Mười Hai 27, 2012 at 2:22 sáng 4 comments

                                                                           Phan Duy Kha

Ngay sau khi bài báo “Giải mã Ngọc phả Hùng Vương”  của tôi (tức bài Ngọc phả Hùng Vương phản ánh các sự kiện về 18 đời vua Hùng trong trang Blog này)  được đăng lên báo Khoa học & Đời sống, một số bạn đọc đã gọi điện thoại hoặc gửi email cho tôi, nêu thắc mắc: Có lẽ nào các vị vua ngày xưa sống đến 200-300 tuổi. Thắc mắc của các bạn là hoàn toàn hợp lý. Vậy, chúng ta hiểu thế nào về Ngọc phả Hùng Vương, về tuổi tác và năm trị vì của các vị vua Hùng?

Có lẽ nào các vị vua ngày xưa sống đến 200- 300 tuổi ?

Trước hết, khi tiếp cận Ngọc phả Hùng Vương, xin bạn hiểu cho một vấn đề cốt lõi thế này: Ngọc phả không phải là lịch sử. Đừng ngây thơ cả tin vào số tuổi đời và số năm trị vì của các vị vua Hùng mà Ngọc phả đã ghi lại. Trên thế giới này, từ xưa đến nay chẳng ai sống đến 200-300 tuổi cả. Ngày nay, điều kiện sống cao hơn xưa nhiều, tuổi bình quân của con người đã lên đến 70- 80 tuổi. Một số người trường thọ thì cũng chưa thấy ai sống quá 130 tuổi. Ngày xưa, điều kiện sống còn khó khăn, thiếu thốn thì tuổi thọ trung bình của người dân còn thấp hơn nhiều. Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho biết, con người thời cổ đại có tuổi thọ trung bình là 20- 30. Tuổi thọ của người Việt cổ của chúng ta chắc cũng xấp xỉ như thế, tức là chỉ bằng 1/10 số tuổi bình quân ghi trong Ngọc phả.

Vậy thì chúng ta hiểu thế nào về số tuổi và số năm trị vì của các đời vua Hùng?

Vấn đề này phụ thuộc vào việc xác định khung thời gian tồn tại của 18 đời vua Hùng. Tại sao vây? Bởi vì hiện nay vẫn có hai quan điểm về khung thời gian tồn tại của các vua Hùng.

Hai quan điểm của giới sử học về thời gian tồn tại của các vua Hùng

Quan điểm thứ nhất cho rằng, 18 đời vua Hùng tồn tại đến 2.622 năm. Căn cứ để tính khung thời gian này là Đại Việt sử ký toàn thư và Ngọc phả Hùng Vương. Nếu lấy 2.622 năm mà chia bình quân cho 18 đời thì trung bình mỗi đời vua là 145 năm. Một số nhà nghiên cứu giải thích rằng, không phải 18 đời vua mà là 18 chi, ngành (thập bát diệp) trong mỗi ngành như vậy có đến mấy ông vua “nối dây” nhau. Vì vậy, tổng số không phải là 18 ông vua trị vì mà có đến 118 ông vua. Như vậy, trung bình mỗi ông vua trị vì cũng chỉ 22 năm, một con số có thể chấp nhận được.

Quan điểm thứ hai cho rằng, thực ra, 18 đời vua Hùng chỉ tồn tại trong hơn 400 năm. Căn cứ để tính khung thời gian này là Đại Việt sử lược (hay còn gọi là Việt sử lược), bộ sử sớm nhất của nước ta. Nguyên văn Đại việt sử lược ghi như sau: “Đời vua Trang Vương nhà Chu (696-682 Tr.CN) ở bộ Gia Ninh có người dị kỳ biết dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”. Nếu lấy niên đại cụ thể này, trừ đi năm Thục Phán được nhường ngôi (258 Tr.CN), thì khung thời gian của 18 đời vua Hùng là trên 400 năm, bình quân mỗi đời vua kéo dài 24 năm, con số này cũng là chấp nhận được.

Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu đồng tình với quan điểm thứ hai. Bởi vì, để hình thành một quốc gia thì đất nước đó, dân tộc đó phải có một trình độ kinh tế – kỹ thuật phát triển đến một mức độ nhất định. Theo kết quả khai quật Khảo cổ học thì cách đây 4.000 năm, chúng ta đang ở thời kỳ Văn hóa Phùng Nguyên, giai đoạn Hậu kỳ Đá mới. Thế mà, để tương ứng với khung thời gian tồn tại 2.622 năm của 18 đời vua Hùng thì đời vua Hùng đầu tiên còn phải xuất hiện trước Văn hóa Phùng Nguyên gần 1.000 năm nữa, tức là cách chúng ta ngày nay gần 5.000 năm. Một niên đại khó có thể chấp nhận! Thời kỳ Hùng Vương phải tương ứng với giai đoạn phát triển rực rỡ nhất: Thời đại đồ đồng, với những trống đồng, thạp đồng, qua đồng, vòng đồng, xuyến đồng  nổi tiếng.

Những ghi chép về Kinh Dương Vương và kinh đô Ngàn Hống dường như là chính xác?

Vậy nhưng, trong nghiên cứu lịch sử lại không đơn giản như thế. Chúng ta không thể chỉ căn cứ vào niên đại của Đại Việt sử lược. Bởi nếu vậy thì giải thích thế nào khi chính sử sách của Trung Hoa ghi rằng: “Đời Đào Đường, Nam di có Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần, rùa được nghìn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay, vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là lịch rùa”(Sách Thông chí do Trịnh Tiêu đời Tống soạn). Sự kiện trên sách Thông giám cương mục của Chu Hi đời Tống soạn ghi là vào năm 2353 Tr.CN. Sách Sử ký Tư Mã Thiên thì ghi rằng: Năm Tân Mão Chu Thành Vương năm thứ 6 (1110 Tr.CN) đất Giao Chỉ ở phía Nam có Việt Thường Thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con chim trĩ trắng”. Đại Việt sử lược của ta cũng chép sự kiện này và tách bạch hai thời kỳ Việt Thường và Hùng Vương thành hai thời kỳ khác nhau, cách nhau đến 400 năm: “Đến đời Chu Thành Vương, Việt Thường thị mới dâng chim trĩ trắng, sách Xuân thu gọi Việt Thường thị là Khuyết Địa, sách Đái Kỷ gọi là Điêu Đề. Đến đời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có một người kỳ dị biết dùng ảo thuật khuất phục các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, gọi là nước Văn Lang, lấy sự thuần chất làm phong tục, buộc dây làm chính sự, truyền được 18 đời, đều xưng là Hùng Vương”. Sách Lâm ấp ký được dẫn lại trong Thủy kinh chú (Thế kỷ 6) của Trung Hoa thì định vị cụ thể: “Cửu Đức là nơi tột cùng của Cửu Di, cho nên lấy để đặt tên cho quận. Chỗ đặt tên quận ấy là một nước di của Việt Thường cực xa. Chim trĩ trắng, ngà voi qua 9 lần dịch tiếng mà đến”. Cửu Đức là tên huyện thời Ngô, tương ứng với vùng bắc Hà Tĩnh ngày nay, nơi có Ngàn Hống (tức núi Hồng Lĩnh). Những ghi chép trên lại hoàn toàn phù hợp với Ngọc phả Hùng Vương, khi cho rằng Kinh Dương Vương vị vua đầu tiên của 18 đời Hùng Vương vốn đóng đô ở Ngàn Hống. Thậm chí, khi đã tìm ra đô mới ở Việt Trì thì ông cũng chỉ cử Hoàng thái tử là Lạc Long Quân ra đô mới, còn ông vẫn ở đô cũ (xem bài Giải mã Ngọc phả Hùng Vương đã đăng). Về vấn đề Kinh Dương Vương và kinh đô Ngàn Hống, Ngọc phả Hùng Vương và Đại Việt sử lược dường như ghi chép chính xác hơn là sự nhào nặn của Đại Việt sử ký toàn thư, bộ sử chính thống của thời Lê !

Chuyện hoang đường có khi lại là sự thật

Vậy thì, chúng ta đánh giá Ngọc phả Hùng Vương như thế nào? Chúng ta không thể đòi hỏi Ngọc phả phải chính xác như sự thật lịch sử. Nhưng trong Ngọc phả có bóng dáng của lịch sử mà ta cần tìm hiểu. Ngọc phả là tâm linh, tình cảm, là khát vọng tìm hiểu của ông cha ta xưa về cội nguồn dân tộc. Và, như nhận định của GS Ngô Đức Thọ sau khi dịch trọn vẹn văn bản quý báu này: “Đọc Ngọc phả Hùng Vương chúng ta bước vào thế giới của những huyền tích kỳ vĩ không chỉ liên quan đến thời kỳ lập quốc dựng nước mà còn xa hơn nữa đến cội nguồn dân tộc. Các địa danh, nhân danh trong Hùng Vương Ngọc phả sử sách đã viết nhiều, bàn nhiều nhưng hầu như cũng chưa vén được bao nhiêu lớp sương mù ngàn năm. Vì vậy, dịch xong Hùng Vương Ngọc phả, người dịch nhận ra rằng, ở đây không có ngôn ngữ cho người chú thích, khảo chứng để chứng minh những gì không đúng với lịch sử như chúng ta biết ngày nay. Thay vào đó, trong cuộc đi như hành trình của chàng Ô đi xê đi tìm dân tộc mình, rải rác ta có thể nhận ra những điều tưởng như hoang đường lại được xác nhận ở một nguồn tin độc lập nào đó” (Lời người dịch).

Ngọc phả không phải là lịch sử nhưng qua đó chúng ta có thể tìm thấy bóng dáng của lịch sử. Hãy đọc và nghiên cứu Ngọc phả, chúng ta có thể nhận ra những điều tưởng như hoang đường có khi lại là sự thật, ví như những ghi chép về Kinh Dương Vương trong Ngọc phả mà chúng tôi vừa nêu ở trên.

Hà Nội ngày 22.12.2012

PDK

Ảnh trên: Cựu đô Ngàn Hống, ảnh chụp từ vệ tinh.

Xem toàn văn bản dịch Ngọc phả Hùng Vương của GS Ngô Đức Thọ, trên trang Blog này, theo duong link https://phanduykha.wordpress.com/2011/12/26/ng%E1%BB%8Dc-ph%E1%BA%A3-hung-v%C6%B0%C6%A1ng-toan-van-b%E1%BA%A3n-d%E1%BB%8Bch-c%E1%BB%A7a-gs-ngo-d%E1%BB%A9c-th%E1%BB%8D/#more-1784

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Mừng lễ Giáng sinh và năm mới 2013 Ai xây Loa Thành: Vua Hùng hay vua Thục ?

4 phản hồi Add your own

  • 1. Ngô Đức Thọ  |  Tháng Mười Hai 30, 2012 lúc 9:19 sáng

    Anh Phan Duy Kha vào Blog mới của tôi, tại đó đã sửa các chữ cần đọc là Tuyền vương. Và tôi đã pót lên đầu 2 tờ nguyên bản Hán văn có vấn đề liên quan (mà tôi đã làm việc với anh sáng nay). Ngô Đức Thọ.
    Ghi chú: Trên blog cũ (yahoo) chưa sửa đựoc,- sẽ sửa sau

    Trả lời
    • 2. phanduykha  |  Tháng Mười Hai 30, 2012 lúc 11:02 sáng

      Xin chân thành cảm ơn GS Ngô Đức Thọ. Bác thật là một người toàn tâm, toàn ý vì học thuật. Thật cảm kích.

      Trả lời
  • 3. Trân Lang  |  Tháng Một 26, 2013 lúc 3:43 chiều

    Tôi xin được bày tỏ đôi điều có tính cá nhân về vấn đề này.
    -Thứ nhất, cách tính lịch của ta trước đây là tính theo con giáp 60 năm lại quay về.
    -Thứ hai, như GS Ngô Đức Thọ dịch chữ “Tuyền vương” là một bằng chứng của việc đọc một chữ thành nhiều âm khác nhau và một âm lại có nhiều chữ biểu thị.
    -Thứ ba, Đại Việt sử kí toàn thư của nhà Lê nếu không bị nhà Trịnh nắm giữ và sửa đổi theo yêu cầu của nhà Thanh thì tin được vì cha ông ta có chữ viết từ ngàn đời và ghi lại được. Dù sách bị nhà Minh cướp hết nhưng kí ức lịch sử còn nóng hổi nên viết không sai.
    -Thứ tư, khi giải mã các chữ nghĩa tiếng Việt thì lại thấy lối chơi chữ trong đó mà kẻ ăn cắp bản quyền đã đổi thay rất thành công. Hùng Vương.
    Ví dụ tại sao gọi “Triệu Muội” là “Triệu Hồ”? Chữ “Triệu” thì đúng là có nghĩa của vị vua (họ vua) và một bộ nằm trong chữ “Việt”. Người Quảng Đông tại sao lại đọc giống chúng ta (có âm đóng) là “Traw Mut” tức là “Triau Mật” nay đọc là “mật”. Âm “Trang Vương” khi giải mã sẽ là gì? Âm cổ hay một số vùng phương ngữ vẫn đọc là “Trong – Trung -troong” và cũng có thể đọc (nói) là “trương” hoặc “tráng”.
    -Thứ năm, Ngọc phả Hùng Vương liệu có khi nào bị sửa trộm theo ý của bọn đạo tặc để hợp lí với những gì chúng đã sửa không? Người có ảo thuật đó chính là ai? Ảo thuật là gì? Đó chính là bí mật của phong thủy. Những người nắm giữ phong thủy là ai? Người siêu việt nhất chính là “Tiết Lang Liêu”. Ông đã dọn lại trên bánh chưng, bánh dày của dân tộc ta. Kể cả bản khắc gỗ chiếu dời đô của Lí Công Uẩn cũng chỉ là bản do nhà Trịnh khắc lại gần đây.
    -Thứ sáu, các thông tin về thời gian như nhâm tuất, đinh mùi, giáp thìn là những niên đai nào. Hưng vương cũng là đời vua thứ 6, Lý Công Uẩn sinh ra vào năm nhâm tuất???
    Và vô vàn thắc mắc khác chưa thể giải mã.

    Trả lời
    • 4. phanduykha  |  Tháng Một 27, 2013 lúc 3:57 sáng

      Xin giới thiệu những ý kiến nhận xét của bạn Trần Lang để mọi người tham khảo. Có những vấn đề chuyên sâu về ngôn ngữ cổ thì bản thân tôi chưa thể trả lời được. Còn về những năm can chi trong ngọc phả như Nhâm Tuất, Đinh Mùi … thì chỉ có tính chất tượng trưng mà thôi, hoặc là sự truy niệm lại của người đời sau về một thời điểm nào đấy, chứ không thể chính xác. Chào thân ái.

      Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Mười Hai 2012
M T W T F S S
« Nov   Jan »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: