Giá trị đặc biệt của Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ.

Tháng Tám 10, 2012 at 10:53 sáng 2 comments

Giá trị đặc biệt của

HOÀNG TRIỀU TRỰC TỈNH ĐỊA DƯ TOÀN ĐỒ

Phan Duy Kha

Ngày 4.7.2012 là một ngày đặc biệt trong cuộc đời Tiến sĩ Mai Hồng (tên thật của ông là Mai Ngọc Hồng, Mai Hồng là bút danh). Đó là ngày ông quyết định hiến tặng tấm bản đồ đặc biệt có một không hai của ông, mà ông đã gìn giữ suốt 35 năm qua, bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” (Bản đồ địa dư các tỉnh của triều đình nhà Thanh) cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam. Tấm bản đồ đó không chỉ là của báu của riêng ông, mà là của báu vô giá của tất cả chúng ta, của tất cả những ai có lương tri trên toàn thể địa cầu. Bởi nó là bằng chứng hùng hồn không thể chối cãi để khẳng định rằng Hoàng Sa, Trường Sa từ xưa chưa bao giờ là của Trung Quốc, rằng cái “lưỡi bò” là hoàn toàn bịa đặt, không có một chút cơ sở pháp lý nào. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, ngày 24.7.2012 Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã tổ chức trọng thể lễ tiếp nhận và công bố tấm bản đồ Quốc bảo có một không hai này.

Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là một tấm bản đồ quý giá mà những người thực hiện đã bỏ công sưu tầm, tập hợp các kết quả điều tra, điền dã do đích thân Hoàng đế nhà Thanh huy động các giáo sĩ, những người giỏi địa lý, toán pháp trong nước cùng đi điều tra thực địa, tập hợp tư liệu, thực hiện. Năm 1904, bản đồ được hoàn thành, do Nhà xuất bản Thượng Hải chính thức xuất bản. Bản đồ có kích thước 115 x 140cm, được tạo thành từ 35 miếng ghép được dán (bồi) trên vải bố, mỗi miếng có kích thước 20x30cm. Do được bồi trên vải nên bản đồ bảo quản được lâu dài mà không bị rách, hỏng. Sau khi tấm bản đồ được công bố đã gây xúc động lớn đối với người dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài và cả bạn bè quốc tế khắp năm châu bốn biển.

Những bản đồ cổ của Trung Quốc không hề có Hoàng Sa, Trường Sa.

Thật ra, không phải chỉ riêng tấm bản đồ này mới thể hiện giới hạn cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam mà tất cả các bản đồ lãnh thổ Trung Hoa do người Trung Quốc vẽ, cho đến đầu thế kỷ 20 đều thể hiện cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. Lần theo chiều dài lịch sử, chúng ta có thể thấy được điều này. Cụ thể :

– Đời Tống:  Tấm bản đồ được xem là cổ nhất của Trung Quốc thể hiện cương vực lãnh thổ của quốc gia là “Cửu vực thú lệnh đồ” được khắc trên đá, từ đời Tống, vào năm 1121, theo bản đồ khắc đá này, giới hạn phía nam của Trung Quốc đến Quỳnh Châu, tức đảo Hải Nam.

– Đời Nguyên: Trong sách “Quản Như đồ” của La Hồng Tiên soan (1561) có in “Dư địa đồ” đời Nguyên của Chu Tư Bản thực hiện, vẽ phần cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.

– Đời Minh:  Bản đồ “Thiên hạ thống nhất chi đồ” được in trong “Đại Minh nhất thống chí”(1461), “Quảng dư đồ” khắc in năm 1555,  “Hoàng Minh đại thống nhất tổng đồ”được in lại trong “Hoàng Minh chức phương địa đồ” của Trần Tổ Thụ (1635) , “ Hoàng triều chức phương địa đồ” khắc in năm 1636 đều thể hiện cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.

–  Đời Thanh: “Hoàng triều phủ sảnh châu huyện toàn đồ” đời Thanh (1862) vẽ theo “Nội phủ địa đồ” gồm 26 mảnh mang tên “”Đại Thanh kịch tỉnh toàn đồ” không hề có Hoàng Sa, Trường Sa. “Quảng Đông tỉnh đồ” trong Quảng Đông dư địa toàn đồ” vẽ năm 1897 không có quần đảo nào. “Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ” vẽ năm 1909 phần cực nam là đảo Hải Nam.

– Tiếp đến thời kỳ Trung Hoa dân quốc, “Trung quốc tân hưng đồ” vẽ năm 1917 cũng thể hiện cực nam Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam.

Mãi sau này, các bản đồ “Trung Quốc địa lý các duyên đồ” vẽ năm 1922, “Trung Quốc tân hình thế đồ” (1922), “ Trung Quốc triết loại phân tỉnh đồ” (1931), “Trung Hoa dân quốc tân địa đồ” (1934) mới vẽ đến quần đảo Hoàng Sa. Năm 1948, “Bản đồ khu vực hành chánh Trung Hoa dân quốc” mới thấy vẽ “đường mười một đoạn” bao chiếm biển Đông. Năm 1953, từ bản đồ trên, Trung Quốc lại vẽ “đường  chín đoạn” (bỏ hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ, thường gọi là đường lưỡi bò, vì giống như cái lưỡi bò liếm xuống phía nam). “Đường chín đoạn” bao trọn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông là Hoàng Sa, Trường Sa, Đông Sa và bãi Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước của biển Đông, chỉ còn lại 25% cho tất cả các nước Phi lip pin, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam. Mỗi nước trung bình được 5%. Đây chính là sự thể hiện tham vọng bành trướng của nhà cầm quyền Trung Quốc, bất chấp luật pháp quốc tế.

Cơ sở khoa học của Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ.

Đây là tấm bản đồ do Sái Thượng Chất chủ biện đài Thiên văn Xà Sơn thực hiện, được tổng hợp từ kết quả điều tra, đo vẽ, bổ sung  liên tục trong vòng hai thế kỷ , kể  từ đời vua Khang Hi đến đời vua Quang Tự được đích thân các Hoàng đế Trung Hoa  chỉ đạo. Cụ thể, vào năm Mậu Tý Khang Hi thứ 47 (1708) vua Khang Hi tuyển chọn các giáo sĩ phương Tây như Bạch Tấn, Lôi Hiếu Tư, Đỗ Đức Mỹ ban đầu với mục đích chế tác Vạn Lý thành đồ. Năm 1711 vua sai các giáo sĩ đi tới 13 tỉnh để đo đạc đất đai, tạo bản đồ . . . Trải qua một năm, (vua) bốn lần đọc duyệt, quy mô bắt đầu định hình. Các giáo sĩ được triệu tập về kinh đô để họ múa bút vẽ họa, sau hai năm công việc cáo thành với bức toàn đồ 15 tỉnh, tấu trình lên vua ngự lãm, ngài vui mừng tuyên dương bằng nghi lễ long trọng” (Trích lời giới thiệu bản đồ của Sái Thượng Chất). Từ đấy, trong gần 200 năm , các giáo sĩ phương Tây, các nhân sĩ Trung Hoa tiếp tục sưu tập, khảo cứu, gia cố, bồi tập thêm . “ Duy về cương vực của các thôn ấp quận huyện ở các tỉnh có thay đổi đôi chút, cho nên xem chỗ nào thiếu thì bổ sung, chỗ nào nhầm lẫn thì đính chính sửa sang, làm bớt sai suyễn  và làm sáng sủa hơn lên, để khi nhìn vào đó thấy rõ ràng như nhìn vào lòng bàn tay. . .” (Trích lời giới thiệu bản đồ). Cho đến năm 1904 mới hoàn thành trọn vẹn tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”. Điều ấy cho thấy sự cẩn trọng, tỷ mỉ, công phu của những người lập bản đồ.

Tấm bản đồ này theo phương pháp đo đạc của các nước phương Tây, có lưới tọa độ địa lý (Kinh độ, vĩ độ) , có tỷ lệ xích chặt chẽ,thống nhất trên toàn bộ bản đồ. Đặc biệt, do bản đồ quy thành hình chữ nhật (115x140cm) như chúng ta đã biết, trong lúc đó thì ranh giới lãnh thổ (hay nói cách khác là địa giới hành chánh) lại có chỗ lồi ra, lõm vào, nếu vẽ liền mảnh với bản đồ thì sẽ mở rộng kích thước ra rất lớn, không hợp lý. Các nhà chế tạo bản đồ thời ấy đã khắc phục sự lồi lõm đó bằng cách cắt những phần nhô ra ngoài khung bản đồ vẽ riêng ra thành những khung bản đồ phụ và đặt vào bên trong bản đồ. Nhìn toàn bộ bản đồ, chúng ta thấy có hai vùng như thế. Đó là vùng Mãn Châu ở phía đông bắc. Vùng này ở trong bản đồ được ghi là He Long Kiang (tức Hắc Long Giang) và được vẽ vào góc dưới bên phải. Bản đồ phụ này vẽ đến phần phía bắc của bán đảo Triều Tiên. Vùng thứ hai nhô ra ngoài bản đồ và được vẽ trong khung riêng là vùng Tân Cương (Trong bản đồ ghi địa danh là Sin Kiang) và được đặt ở góc trên bên trái. Lúc này, vùng đất Tây Tạng chưa thuộc về Trung Quốc, nên phần đất Tân Cương nhô dài ra.

Điều đặc biệt thứ hai của tấm bản đồ này là, ở góc dưới bên trái của bản đồ có vẽ Bán cầu phía đông , trên đó vẽ vị trí nước Trung Hoa trong tổng thể của quả Địa cầu. Bản đồ Bán cầu này vẽ toàn bộ châu Á, toàn bộ Châu Âu, một phần Châu Phi , phần phía bắc Canada và bán đảo Alatska. Như vậy toàn bộ các nước Đông Nam Á của chúng ta nằm lọt trong bản đồ này. Tuy nhiên, ở trên phần biển Đông không hề thể hiện một “đường Lưỡi bò” hay một đường gì tương tự để ghi nhận chủ quyền của Nhà Thanh. Điều đó chứng tỏ rằng, trong suốt quá trình 200 năm điều tra nghiên cứu để lập bản đồ này, các Hoàng đế cũng như các quan lại nhà Thanh không hề có khái niệm gì về vùng biển phía nam đảo Hải Nam, tức biển Đông của chúng ta.

Về kỹ thuật, bản đồ này ứng dụng kỹ thuật Trắc địa Bản đồ phương Tây với hệ thống kinh độ vĩ độ khá chuẩn xác, gần giống như các bản đồ ngày nay.

Về nội dung, đây là bản đồ hành chính vẽ đến từng tỉnh (trực tỉnh) trên toàn quốc (toàn đồ), vì vậy nó mang tính chính thống. Trên bản đồ, ta thấy thể hiện từng tỉnh, mỗi tỉnh một màu để dễ phân biệt “như nhìn vào lòng bàn tay” (lời giới thiệu) . Những phần lãnh thổ nhô ra ngoài giới hạn khung bản đồ đều được vẽ thành bản đồ phụ . Nếu quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của chúng ta nằm trong cương vực lãnh thổ Trung Quốc thì các nhà lập bản đồ đã phải vẽ thêm một bản đồ phụ (như đã làm với vùng Tân Cương và Mãn Châu). Tuy nhiên ta không hề thấy phần vẽ thêm đó. Mặt khác, trong bản đồ bán cầu (vẽ một nửa quả đất đặt góc trái phía dưới) toàn bộ phần Biển Đông và Đông Nam Á nằm hoàn toàn trong đó, nhưng cũng không có một chỉ dẫn hay thậm chí một ký hiệu nào để chứng tỏ rằng vùng biển đảo này thuộc quyền quản lý của nhà Thanh. Điều đó chứng tỏ rằng, nhà Thanh chưa hề có khái niệm gì về chủ quyền vùng Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.  Cái mà Trung Quốc gọi là Nam Hải chỉ  là để chỉ vùng biển phía đông của đảo Hải Nam mà thôi (xem bản đồ, chữ Nam Hải nằm vào khoảng trống giữa đảo Hải Nam và khung ghi chú ký hiệu bản đồ). Các nhà cầm quyên Trung Quốc đã cố tình mập mờ đánh đồng Nam Hải của Trung Quốc với Biển Đông của chúng ta rồi vẽ “đường lưỡi bò” để bao chiếm Biển Đông chỉ là thể hiện tham vọng bành trướng của Trung Quốc, nhằm biến Biển Đông của chúng ta thành “ao nhà” của họ mà thôi. Nhưng, lòng tham làm mờ mắt, họ không lường được, cũng không xóa được những chứng cứ từ xưa để lại lật tẩy tham vọng đó.

Biển Đông không phải là “ao nhà” của Trung Quốc.

Câu trên không phải của tác giả bài viết này mà là của một học giả Trung Quốc, GS Sun Zhe , trường Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh. Ông viết: “Nam Hải (tức Biển Đông không phải là ao nhà (Internal Lake) của Trung Quốc, bởi phần nhiều vùng biển này thuộc vùng biển quốc tế” .

Như chúng ta đã biết, các bản đồ Trung Quốc từ đầu thế kỷ 20 trở về trước đã chỉ rõ, cực nam của nước này chỉ đến đảo Hải Nam. Triều đình nhà Thanh chưa hề có khái niệm về chủ quyền biển đảo vùng phía nam đảo Hải Nam. Năm 1948 dưới thời Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch tự vẽ thêm đường 11 đoạn, với ý đồ bao chiếm Biển Đông. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949 đã “kế thừa di sản” của họ Tưởng, từ đường lưỡi bò 11 đoạn đã vẽ thành “đường lưỡi bò” chín đoạn (do bỏ hai đoạn nằm trong vịnh Bắc Bộ). Như vậy cái “đường lưỡi bò” đó mới được manh nha từ thời quân phiệt Quốc dân đảng, hoàn toàn không có căn cứ lịch sử và cơ sở pháp lý.

Năm 1946, dựa trên tuyên bố Cairo và tuyên bố Potsdam, quân Tàu Tưởng ở trong phe Đồng Minh, được vào giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Việt Nam. Nhân cơ hội đó, bốn tàu chiến của Trung Hoa dân quốc đổ bộ lên chiếm đảo Phú Lâm , thuộc quần đảo Hoàng Sa. Chính phủ Pháp phản đối và đưa quân trở lại đảo. Tháng 4.1950, quân Tưởng rút khỏi đảo Phú Lâm. Ngày 14.10. 1950, chính phủ Pháp chính thức chuyển giao quyền quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại đứng đầu. Năm 1954, Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời. Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm ở phía nam vĩ tuyến 17, thuộc quyền quản lý của Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Tháng 4.1956, Việt Nam cộng hòa kế thừa chính quyền Bảo Đại, quản lý Hoàng Sa, Trường Sa. Tuy nhiên, trong khi chính quyền Việt Nam cộng hòa chưa kịp đưa quân ra đóng giữ, thì chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã nhanh tay đưa quân ra chiếm giữ trái phép hai đảo Phú Lâm và Lin Côn thuộc nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Đây chính là hành động ăn cướp, lợi dụng lúc chủ nhà đang lúng túng trong việc chuyển giao quyền lực, chưa kịp để mắt đến vùng phên dậu xa xôi. Thế là, con sói đã đặt được một chân vào nhà người.

Khi con sói đã đặt được một chân vào nhà người rồi thì lì lợm chờ thời, để lấn tới, đừng ai ngây thơ, cả tin rằng sói sẽ rút chân ra! Năm 1972, với Thông cáo Thượng Hải, Trung Quốc chính thức bắt tay với Mỹ, đó chính là cơ hội để họ chiếm nốt Hoàng Sa của chúng ta. Ngày 19.4.1974, lợi dụng lúc quân đội Việt Nam cộng hòa đang ở thế suy yếu, tan rã, Trung quốc dùng không quân và hải quân tấn công quân đội đồn trú của Việt Nam cộng hòa đóng ở nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa.  Quân đội Việt Nam cộng hòa sức yếu, thế cô ,một tàu hải quân bị bắn chìm, 74 thủy thủ hi sinh,  nhiều thủy thủ bị bắt. Số còn lại đã phải rút khỏi đảo . Từ đấy quân Trung Quốc chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa của chúng ta. Lại một lần nữa, chúng ta im lặng. Chúng ta hết sức ngây thơ và cả tin, cho hành động cướp đảo của Trung Quốc chỉ là nhờ   “ông anh giữ hộ”. Các người làm công tác tuyên huấn hồi đó đã giải thích với cán bộ và nhân dân rằng, “để ông anh giữ hộ, dù sao cũng còn hơn để kẻ thù giữ. Bao giờ hòa bình thống nhất, chúng ta sẽ xin lại (!) Không, đừng ngây thơ cả tin vào lòng tốt của con sói! Không có “tình cảm quốc tế vô sản cao cả” nào đâu. Chỉ có ý thức dân tộc cực đoan, hẹp hòi với tư tưởng bá quyền, nước lớn mà thôi. Hãy xem cách hành xử của Trung Quốc đối với các nước láng giềng có chung đường biên giới mà xem. Đâu phải gì riêng ta. Chỉ kể những xung đột lớn, mà mỗi bên có hàng sư đoàn tham gia, với đủ các loại vũ khí tối tân hiện đại: Năm 1962, họ xung đột biên giới với Ấn Độ, năm 1969 xung đột với Liên Xô (cũ), năm 1979, gây chiến tranh biên giới với Việt Nam. Còn hiện nay thì đang tranh chấp một lúc với Nhật Bản, Philipin và Việt Nam. Thật là bất hạnh cho những quốc gia có chung đường biên giới với Trung Quốc, không mấy khi mà được bình yên.

Không phải bây giờ, mà ngay từ thời xa xưa, Trung Quốc cũng luôn tìm cách thôn tính dần những nước nhỏ xung quanh, sáp nhập thành quận huyện của họ. Thời nhà Hán, họ thôn tính các nước Thục (nay là vùng Tứ Xuyên), nước Ba (nay là Trùng Khánh), nước Dạ Lang (nay là Quý Châu). Thời nhà Nguyên thôn tính nước Đại Lý (nay là tỉnh Vân Nam). Thời nhà Thanh sáp nhập vùng Mãn Châu, Tân Cương. Năm 1952 thì sáp nhập vùng đất Tây Tạng. Đất nước Trung Hoa cứ thế bành trướng lên, rộng lớn như ngày nay. Riêng đối với Việt Nam ta, từ Hán Đường đang còn lệ thuộc, đến Tống , Nguyên, Minh, Thanh, thời nào họ cũng phái quân sang đánh nước ta, mong biến nước ta thành quận huyện của họ. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam quật cường, hết đời này đến đời khác, đều bẻ gãy ý đồ xâm lược của họ . Các đạo quân xâm lược, triều đại nào cũng thế, lúc ra đi thì hùng hùng hổ hổ, lúc trở về thì tả tơi, ôm đầu máu mà về ! Không khuất phục được dân tộc Việt Nam thì họ lấn từng tý đất. Thậm chí, dòng sông chảy giữa hai nước thì bên phía họ, họ cũng kè cho thật chắc, lái dòng chảy cho xói mòn sang bên ta, để dòng sông gậm dần đất ta. Tâm đen của họ, chúng ta đều biết cả. Cái “đường lưỡi bò” ở biển Đông, bất chấp lịch sử, bất chấp đạo lý,bất chấp pháp lý cũng nằm trong tham vọng bành trướng đó mà thôi. Nhưng, chúng ta có thể nói thẳng với họ rằng, biển Đông đâu có phải là ao nhà của Trung Quốc !

Chúng ta có đủ bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý và sức mạnh đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp gìn giữ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

“Đường lưỡi bò” chỉ mang lại nhục nhã cho họ bởi lòng tham vô đáy mà thôi !

PDK

.

Ảnh đầu bài: TS Mai Hồng trong một buổi tọa đàm về tấm bản đồ quý mà ông vừa hiến tặng.

Ba ảnh trong bài:

1. Bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ.

2. Bản đồ “đường lưỡi bò” bao chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

3. TS Mai Hồng (thứ 3 từ trái sang) trong một buổi tọa đàm tại Trung tâm văn hóa Tràng An. Tác giả bài viết ngồi ngoài cùng bên phải .

*

Ghi chép thêm (mới cập nhật 1.12.2012): Gần đây, nhà cầm quyền Trung Quốc đã có nhiều hành động ngang ngược, dồn dập vi phạm chủ quyền biể đảo của chúng ta:

– Ngày 21.11.2012, Nhà cầm quyền Trung Quốc cho in “đường lưỡi bò” lên hộ chiếu . Hành động này bị dư luận nhiều nước phản đối. Đây là việc làm chưa từng có tiền lệ trong quan hệ quốc tế.

– Ngày 23.11, Trung Quốc cho xuất bản Bản đồ Tam Sa, phạm vi bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam.

– Ngày 27.11, chính quyền tỉnh Hải Nam thông qua bản sửa đổi “Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển tỉnh Hải Nam” trong đó đưa hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam vào phạm vi áp dụng.

– Ngày 30.11, trong khi tàu Bình Minh 02 của Việt Nam đang tiến hành thăm dò địa chấn bình thường trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam, chỉ cách đảo Cồn Cỏ 43 hải lý thì bị hai tàu cá của Trung Quốc cản trở và cắt cáp.

Đây là những hành động nằm trong mưu đồ lâu dài xâm chiếm Biển Đông, cho thấy rằng, Trung Quốc không bao giờ từ bỏ âm mưu đó và sự vi phạm ngày càng trắng trợn hơn, ngang ngược hơn. Đây lại một lần nữa (và sẽ còn nhiều lần nữa!) cảnh báo cho những ai còn mơ hồ về tình hữu nghị Việt Nam -Trung Hoa “núi liền núi, sông liền sông”, tình anh em thắm thiết “như môi với răng”, và “tình cảm quốc tế trong sáng và cao cả” của ông “bạn vàng”  này (!)

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Thêm tư liệu khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam Bí ẩn những hình khắc trên đá ở Sa Pa

2 phản hồi Add your own

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Tám 2012
M T W T F S S
« Jul   Sep »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: