Thơ về Thăng Long – Hà Nội ( Thơ cổ – cận đại )

Tháng Một 1, 2012 at 4:31 sáng 1 Bình luận

Trải qua hơn 1.000 năm, trong đó hơn 800 năm được chọn là Kinh đô của Quốc gia, Thăng Long – Hà Nội là đối tượng của rất nhiều tác phẩm văn chương ca ngợi. Thơ viết về Thăng Long – Hà Nội rất  nhều. Ngập trong “biển” thơ đó, tôi chỉ chọn một số bài. Sự lựa chọn này mang tính chủ quan, theo cái “gu” cảm thụ của tôi. Có thể có nhiều bài bạn thích nhưng tôi không đưa vào đây, cũng có thể có bài tôi đưa vào đây nhưng bạn cho rằng chưa xứng đáng. Nhưng không sao, xưa nay, cái “gu” của từng người không ai giống ai. Vậy thì có gì chưa như ý, mong bạn thể tất cho .

Phan Duy Kha tuyển chọn và giới thiệu.

*

Trần Quang Khải

TỤNG GIÁ HOÀN KINH SƯ

Đoạt sóc Chương Dương độ

Cầm Hồ Hàm Tử quan

Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san.

Dịch thơ :

PHÒ GIÁ VỀ KINH

Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân Hồ

Thái bình nên gắng sức

Non nước vẫn nghìn thu.

*

Phạm Sư Mạnh

ĐỀ BÁO THIÊN THÁP

Trấn áp đông tây củng đế kỳ

Khuy thiên nhất tháp độc nguy nguy

Sơn hà bất động kình thiên trụ

Kim cổ nan ma lập địa chùy

Phong bãi chung linh thời ứng đáp

Tinh di đăng chức dạ quang huy

Ngã lai dục thử đề danh bút

Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn trì.

Dịch thơ:

ĐỀ THÁP BÁO THIÊN

Trấn áp đông tây giữ đế đô

Hiên ngang ngọn tháp đứng trơ trơ.

Non sông vững chãi tay trời chống,

Kim cổ không mòn đỉnh tháp nhô.

Thỉnh thoảng gió lay, chuông ứng đáp,

Đêm đêm sao xế, đuốc khôn mờ.

Tới đây những muốn dầm ngòi bút,

Chiếm cả dòng sông mài mực thơ.

Đào Thái Tôn dịch

*

Đoàn Nguyễn Tuấn

QUÁ NHĨ HÀ QUAN BẮC BINH CỐ LŨY

Sát khí xung khai vạn táo yên

Duy dư trĩ điệp Nhĩ Hà biên

Tái vinh thảo mộc huân tàn chiếu

Nhất độ can qua trực đảo huyền

Ngũ Lĩnh quy hồn ưng vạn lý

Chương Dương vãng sự dĩ thiên niên

Giải tri hưng kế tu xuyên nhạc

Tảo vấn Tây Sơn tống tạ tiên.

Dịch thơ:

QUA SÔNG NHỊ NGẮM LŨY XƯA CỦA QUÂN BẮC

Sát khí xua tan muôn khói bếp

Nhị Hà thành lũy bến trơ nằm

Bóng chiều lại ấm, tươi cây cỏ

Binh lửa từng treo ngược cổ dân

Ngũ Lĩnh hồn về đành vạn dặm

Chương Dương chuyện cũ đã nghìn năm

“Phù Lê” nghĩ thẹn cùng sông núi

Sớm hỏi Tây Sơn gửi thiếp mừng.

Khương Hữu Dụng dịch

*

Nguyễn Du

THĂNG LONG

1

Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long .

Thiên niên cự thất thành quan đạo,

Nhất phiến tân thành một cố cung.

Tương thức mỹ nhân khan bão tử,

Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông .

Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy,

Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.

Dịch thơ:

Tản ,Lô kia vẫn núi sông

Bạc đầu còn thấy Thăng Long có rày.

Nhà xưa đã hóa đường này,

Cung xưa bỗng hóa thành xây lạ lùng,

Gái quen nay đã con bồng,

Bạn chơi nay đã nên ông cả rồi.

Suốt đêm không ngủ bồi hồi,

Vi vu tiếng sáo một trời trăng trong.

Phạm Khắc Khoan và Ngô Ngọc Can dịch.

2

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành,

Do thị Thăng Long cựu đế kinh

Cù hạng tứ khai mê cựu tích

Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.

Thiên niên phú quý cung tranh đoạt,

Tảo tuế thân bằng bán tử sinh.

Thế sự phù trầm hưu thán tức

Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh.

Dịch thơ:

Thành mới trăng xưa bóng lửng lơ,

Thăng Long đô cũ dấu còn trơ.

Phố phường rộng mở quên đường cũ,

Đàn sáo rầy pha khác điệu xưa.

Phú quý nghìn năm tranh cướp đoạt,

Bạn bè thuở trẻ đã lưa thưa.

Việc đời chìm nổi, than chi nữa,

Mái tóc mình đây cũng bạc phơ.

Vũ Mộng Hùng và Trần Thanh Mại dịch.

*

Ngô Ngọc Du

LONG THÀNH QUANG PHỤC KỶ THỰC

Hà vật nghịch tặc lai xương cuồng?

Vương sư nhất nộ uy vũ dương,

Trường khu trực đáo chân thần tốc.

Như tòng thiên giáng nan để đương.

Hỏa long nhất trận tặc phi mỹ,

Khí thành sang độ tranh đào sinh.

Tam quân ngũ quán chỉnh đội tiến

Bách tính tước dược giáp đạo nghênh.

Vân vũ bát khai kiến thiên nhật ,

Mãn thành lão thiếu câu hoan nhan.

Ma kiên bả tý quần tương ngữ :

Cố đô hoàn thị ngã hà san.

Dịch nghĩa:

GHI CHÉP VIỆC KHÔI PHỤC THÀNH THĂNG LONG

Bọn giặc vì cớ gì mà điên cuồng đến đây!

Quân của nhà vua phẫn nộ nêu cao uy vũ,

Rồi thần tốc xông thẳng tới

Như từ trên trời xuống, không ai đương nổi.

Một trận rồng lửa làm cho giặc tan tành.

Chúng bỏ thành cướp đò tìm cách chạy trốn.

Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến lên,

Trăm họ mừng rỡ đón tiếp đầy đường.

Mây quang mưa tạnh, thấy lại mặt trời,

Đầy thành trẻ già mặt tươi như hoa

Họ chen vai thích cánh nói với nhau:

Cố đô vẫn thuộc núi sông của ta. . .

*

Hồ Xuân Hương

CHÙA QUÁN SỨ

Quán Sứ sao mà khách vắng teo?

Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?

Chày kình tiểu để suông không đấm,

Tràng hạt vãi lần, đếm lại đeo.

Sáng banh không kẻ khua tang mít,

Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.

Cha kiếp đường tu sao lắt léo,

Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo !

*

Bà Huyện Thanh Quan

THĂNG LONG HOÀI CỔ

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.

CHÙA TRẤN BẮC

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu,

Khiến người qua đó chạnh niềm đau

Mấy dò sen rớt hơi hương ngự,

Năm thức mây phong nếp áo chầu.

Sóng lớp phế hưng coi đã rộn,

Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.

Người xưa, cảnh cũ nào đâu tá,

Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu !

Nguyễn Văn Siêu

DU TÂY HỒ

Kim cổ dĩ như thử

Giang sơn diệc thức phầu?

Thành trì không lịch lịch.

Thiên thủy tự du du.

Chung thanh tỉnh phù thế

Thụ sắc minh tàn thu.

Thả tận minh triêu hứng

Đồng quân đãng bách ưu.

Dịch thơ:

CHƠI HỒ TÂY

Xưa nay biến đổi thế

Nước non có biết cho?

Thành trì vẫn lồ lộ,

Trời nước mãi lửng lờ.

Chuông gọi đời tỉnh mộng,

Cây đậm màu cuối thu.

Chơi hôm nay thỏa thích

Cùng bạn rửa trăm lo.

Ngô Bách Bộ dịch

*

Trần Bá Lãm

TÂY HỒ

Thạch sơn hãm hậu, thủy thanh lưu.

Lãng Bạc, Dâm Đàm lịch kỷ thu ?

Vãng sự hưng vong hồn thị mộng,

Giang hồ nhân tự phiếm ngư chu.

Dịch thơ:

Núi sụt, nước hồ trong vắt chảy,

Dâm Đàm, Lãng Bạc trải bao thu.

Nổi chìm chuyện cũ, thôi đành mộng,

Sông nước lênh đênh, thuyền lão câu. . .

VỊNH ÔNG BÀ VŨ PHỤC

Thủy sinh thùy liệu ba đào địa

Nhất tử lân tai phụ dữ phu

Vân vũ kỷ niên triêu mộ sắc

U hồn do nhiễu nhị giang lưu.

Dịch thơ:

Kiếp này đâu ngỡ vùi sông nước

Một chết thương thay vợ với chồng

Sớm tối mây mưa thay đổi sắc

Hồn oan lẩn khuất ngã ba sông.(1)

Chú thích: (1):  Thời nhà Lý,ông Vũ Phục bị ném xuống sông hi sinh để chữa bệnh đau mắt cho vua, bà Vũ Phục cũng nhảy xuống nước chết theo.

*

Miên Thẩm

DU TRẤN VÕ QUÁN

Cao lâu độc thướng , tứ đê hồi,

Tịch mịch hàn chung, mộ sắc thôi.

Cổ thụ hữu chi thê dạ nguyệt

Tàn bi vô tự, tỏa thương đài.

Bách niên đồng tượng nguy nhiên tại.

Ngũ đại kim môn bán dĩ đồi !

Chi thặng Tây Hồ vân thái hảo

Tùy phong do phật họa liệm lai. . .

Dịch thơ:

CHƠI ĐỀN TRẤN VÕ

Lên lầu lòng những bồi hồi

Quạnh hiu chuông lạnh đổ hồi hoàng hôn !

Cành cây cổ, ánh trăng hôm,

Rêu xanh phong kín, bia mòn chữ bay!

Trăm năm đồng tượng còn đây,

Cửa vàng ngũ đại đến nay hầu tàn,

Chỉ còn mây đẹp Dâm Đàm,

Trước rèm hoa ấy , theo làn gió lay. . .

*

Vua Thành Thái

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

Kỷ độ tang thương kỷ độ kinh

Nhất phiên hồi thủ, nhất phiên tình

Ngưu hồ dĩ biến tam triều cuộc

Hỗ động không dư bách chiến thành

Nùng Lĩnh phù vân kim cổ sắc

Nhị Hà lưu thủy khấp ca thanh

Cầm hồ đoạt sáo hà nhân tại

Thùy vị giang sơn tẩy bất bình.

Dịch nghĩa (Chưa tìm được bản dịch thơ) :

Qua bao biến đổi, nghĩ lại thấy kinh hoàng

Mỗi lần ngoảnh lại thấy cảm động trong lòng

Ngưu hồ đã thay đổi qua ba triều đại

Động hổ còn trơ mấy bức thành

Mây bay trên núi Nùng mang sắc màu kim cổ

Sông Nhị Hà nước chảy như tiếng khóc ca

Người cầm hồ, đoạt sáo ngày xưa đâu cả  rồi

Bây giờ ai là người vì giang sơn rửa nỗi bất bình.

*

Nguyễn Khuyến

HOÀN KIẾM HỒ

Bất đáo Kiếm Hồ tam thập niên,

Đương thời cảnh sắc dĩ mang nhiên.

Hành mao hà xứ khởi lâu các,

Già pháo da thanh vô quản huyền.

Huyền điểu quy lai mê cựu kính,

Bạch âu mộ hạ túc hàn yên.

Khả liên ngũ bách văn chương địa

Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền.

Dịch thơ:

Ba chục năm trời cảnh vắng ta,

Hồ Gươm dấu cũ đã phai nhòa.

Tranh che khắp chốn thành lầu gác,

Kèn súng thâu đêm bặt trúc tơ

Chim én tìm về quên lối cũ,

Đàn cò tối đậu lẫn sương mờ.

Năm trăm năm cũ nơi văn vật,

Còn sót hòn non một nấm trơ !

*

Từ Diễn Đồng

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

Ở đây nhà Lý đóng đô đây,

Trải mấy trăm năm mới đến nay.

Năm cửa chỉ còn lầu Cửa Bắc

Cột cờ sao thấy lá cờ Tây?

Nền văn nhà Lý xây kia đó,

Vết kiếm vua Lê vứt chỗ này.

Người cũ bây giờ đâu cả nhỉ ?

Xe rồng chẳng thấy, thấy xe tay !

*

Phan Điện

THĂNG LONG VĂN VẬT

Nghìn năm văn vật đất Thăng Long

Trâu Lỗ cung tường bỏ vắng không

Khoa giáp đời Lê trơ mỏm đá

Lễ nghi đức Khổng tuột đầu sông

Kìa người trung liệt xây non đất

Nọ chú Bôn Be đúc tượng đồng

Danh giáo xưa nay lừng cõi Việt

Đau lòng xe điện tiếng chuông rung.

Advertisements

Entry filed under: Uncategorized.

Hà Nội, điểm hẹn phố và hoa 2012 Thơ về Thăng Long – Hà Nội (Thơ hiện đại)

%(count) bình luận Add your own

  • 1. sach phong thuy nha o pdf  |  Tháng Năm 20, 2014 lúc 10:14 sáng

    sach phong thuy nha o pdf

    Thơ về Thăng Long – Hà Nội ( Thơ cổ – cận đại ) | Phan Duy Kha

    Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Một 2012
H B T N S B C
« Th12   Th2 »
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: