Cố đô Ngàn Hống mở đầu thời đại dựng nước

Tháng Tư 6, 2011 at 3:22 chiều 7 comments

Cho đến nay, thời kỳ Hùng Vương được các nhà sử học khẳng định là thời kỳ có thật trong lịch sử. Tuy nhiên, không có một tư liệu thành văn nào ghi chép về thời kỳ này cho nên chúng ta tạm bằng lòng với việc “dựng” lại lịch sử bằng các truyền thuyết dân gian , dân tộc học, ngôn ngữ học, địa phương học, . . kết hợp với kết quả của ngành Khảo cổ học. Vì vậy, nếu đề cập tới thời kỳ Tiền Hùng Vương thì còn khó khăn gấp bội phần. Tuy nhiên, chúng ta cắt nghĩa thế nào về những ghi chép của các sử gia Trung Hoa về một đất nước Việt Thường xuất hiện rất lâu trước thời kỳ Hùng Vương ? Chúng ta cắt nghĩa thế nào về một cố đô Ngàn Hống xuất hiện trước khi có Kinh đô Văn Lang, nhất là khi những ghi chép đó lại xuất hiện trong Ngọc phả Hùng Vương, như một sự truy niệm về kinh đô cũ ? Xin cung cấp cho các nhà nghiên cứu và  bạn đọc hai tư liệu trên.

I – SỰ TÍCH CỐ ĐÔ VIỆT THƯỜNG

( Truyền thuyết )

Tục truyền, cha của Long Vương là Dương Vương, khi mới mở nước, đi xem phong cảnh núi sông, tìm nơi xây dựng kinh đô. Khi về phương Nam, đến vùng Ngàn Hống, thấy phong cảnh núi non trùng trùng điệp điệp, 99 ngọn ( Ngọc phả Hùng Vương ghi là 199 ngọn) cao tận trời xanh, chân núi vờn đến gần cửa Đơn Hay (tức cửa Đan Nhai, tức Cửa Hội) có thế rồng  vây hổ chầu, Dương Vương rất lấy làm vừa ý. Vương bèn quyết định đắp thành dưới núi, lấy nơi này làm đô ấp, cứ như vị trí ngày nay thì thành ấy là đất Nội- Tả – Hữu Thiên Lộc thuộc Châu Hoan ( nay thuộc phạm vi các xã Thiên Lộc, Phúc Lộc, Tùng Lộc thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, xem ảnh, Click vào ảnh để xem ảnh phóng to)

Dựng xong đô ấp, Dương Vương lại cưỡi thuyền thẳng về hướng bắc, tiếp tục đi xem phong cảnh đất nước. Thuyền đang đi, bỗng có một người con gái “tóc dài ngài (người) đẹp, da phấn mặt hoa” từ dưới nước nổi lên, tự xưng là Thần Long. Sau khi chào hỏi ân cần, vương mời nàng lên thuyền, đôi bên trò chuyện rất ăn ý. Dương Vương đưa nàng về đô ấp Ngàn Hống và cưới làm vợ.

Vương lại tiếp tục tuần thú phương Bắc. Đến vùng núi như ngày nay là Sơn Tây, vương thấy cảnh núi sông thật là hùng vĩ đặc biệt ngã ba Hạc là nơi thủy bộ thuận lợi, xem ra nhiều chỗ ưu việt hơn đất Hoan Châu. Vương bèn cho xây dựng đô ấp mới ở vùng Nghĩa Lĩnh, từ ngã ba Hạc đến vùng núi Hi Cương , làm nơi hành tại.

Dương Vương lại lên vùng Hưng Hóa- Tuyên Quang bây giờ, lấy thêm một người con gái họ Mã là nàng Ngọc Nương làm vợ và dựng một cung sở cho nàng ở, cung sở đó xưa là vùng Tiên Cát, gần Việt Trì ngày nay.

Vương ở Tiên Cát ít lâu rồi trở về đô ấp Ngàn Hống. Lúc này, nàng Thần Long đã đến ngày mãn nguyệt khai hoa, sinh con trai đầu lòng. Đó là Long Vương, con trưởng của Dương Vương, tức là Vua Hùng thứ nhất, sau này gọi là Hùng Hiền Vương (tức Lạc Long Quân)

Khi Long Vương lớn lên, Dương Vương giao cho đô ấp Nghĩa Lĩnh để trông coi việc nước ở phương bắc và thay cha chăm sóc bà mẹ thứ là Mã Ngọc Nương. Trong thời gian ở kinh thành Nghĩa Lĩnh, nhân một chuyến đi tuần thú, Long Vương gặp nàng Âu Cơ ở vùng Sơn Tây cũ và lấy làm vợ.

Long Vương đưa nàng Âu Cơ về động Hi Cương , còn mình thì ở luôn Phong Châu (gần ngã ba Hạc) làm việc nước.

Về sau Long Vương bỏ kinh đô cũ Ngàn Hống, lấy Phong Châu làm kinh đô chính, đặt tên nước là Văn Lang, chia làm 15 bộ

Từ đó cố đô Việt Thường ở Ngàn Hống bị thời gian xóa dần dấu vết.

( Theo Địa chí huyện Can Lộc,Huyện ủy, UBND huyện Can Lộc, Sở VHTT Hà Tĩnh, 1999, trang 224-225 )

II – HÙNG ĐỒ THẬP BÁT DIỆP THÁNH VƯƠNG NGỌC PHẢ CỔ TRUYỀN (Ngọc phả 18 đời Hùng Vương)

( Ngọc phả này hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương)

Sách chữ Hán, khổ 19×25 gồm 21 tờ, 42 trang, mỗi trang 10 giòng, tổng số gần 10.000 chữ.

Trang 1 (tên Phả) : Hùng đồ thập bát diệp Thánh Vương Ngọc phả cổ truyền)

Trang 2: Hoàng triều, Hoằng Định nguyên niên Canh tý, đông, thập nguyệt, cát nhật, Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng trùng đính

Góc trái ghi: Lễ phiên Lê Đình Hoan thừa sao

Góc phải có đóng ba dấu và ghi: Bản sao lưu tại quan lang phụ đạo Hùng Vương tôn điệt, phụ truyền tử kế, giữ Nghĩa Cương tạo lệ, hộ nhi Trung Nghĩa hương giám tự ( Hoàng triều Hoằng Định năm đầu, Canh Tý (1600), mùa đông tháng 10, ngày tốt, Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng sửa và đính chính, Lễ phiên Lê Đình Hoan thừa sao. Bản sao lưu tại nhà quan lang phụ đạo, con cháu Hùng Vương cha truyền con nối, là dân tạo lệ xã Nghĩa Cương, và là Giám thôn Trung Nghĩa )

Tờ 21 trang 42, giữa trang ghi: Hồng Đức nguyên niên, Nhâm Thìn xuân, tam nguyệt , cốc đán, Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn. Góc phải ghi: Dĩ thượng nhị thập nhất tờ. (Nhâm Thìn, Hồng Đức năm đầu, mùa xuân , tháng ba, là ngày lành, Hàn lâm viện Trực học sĩ là Nguyễn Cố phụng soạn. Tổng số là 21 tờ ).

Đặc biệt Ngọc phả này có ghi về đô thành Ngàn Hống như là một kinh đô của người Việt cổ trước khi có kinh đô Văn Lang. Đó là nội dung ghi ở các trang 2a , 2b, 3a và 3b. Nguyên văn như sau :

Dương Vương vâng chỉ, nghiêm túc theo uy trời, đến núi Nam Miên, đi xem phong thủy, chọn được thế đất tốt để lập đô ấp. Bèn qua Hoan Châu. . .xem khắp hình thế, thấy một vùng phong cảnh lâu đài vạn lớp, gọi là núi Hùng Bảo Thiếu Lĩnh, gồm 199 ngọn, gọi là Cựu Đô, nay gọi là Ngàn Hống, giáp với cửa Hội Thống ngoài biển. Núi đi gấp khúc, nước chảy vòng theo, rồng cuộn hổ nằm. Xem khắp bốn phía, bèn dựng đô thành để định bốn phương triều cống. Bấy giờ khí xuân ôn hòa, vạn vật đua sắc. Vua bình sinh vốn yêu phong thủy, bèn cử giá tuần du ngoài biển, xem khắp địa đồ, bất giác thuyền rồng đến thẳng hồ Động Đình. . . ( tờ 2a và 2b )

Về việc chuyển kinh đô từ Ngàn Hống ra núi Nghĩa Lĩnh Ngọc phả ghi như sau :

Về sau vua lại đi tuần thú, trải khắp núi sông, xa giá đến xứ Sơn Tây, thấy địa hình trùng điệp , núi đẹp sông hay. Vua bèn tìm địa mạch , nhận thấy từ núi Côn Luân giáng xuống qua cửa ải, tựa như cầu vồng thoát mạch, rồng vút đi xa. . . Lấy sông Bạch Hạc làm nội Minh Đường, ngã ba Lãnh của sông lớn làm trung Minh Đường, núi Tượng Sơn của Nam Hải làm ngoại Minh Đường. Nghìn núi quay lại, vạn sông chầu về, tất cả đều hướng về núi Tổ Nghĩa Lĩnh, thu hết hình thế. Vua nhận thấy thế đất này quý hơn hẳn đô thành cũ ở Hoan Châu, bèn lập chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh thường ngự giá lưu lại ở đây. Bên ngoài dựng đô thành Phong Châu (nay đô thành cũ còn thấy ở thôn Việt Trì , xã Bạch Hạc của huyện Bạch Hạc) . Vua xa giá trở về đô thành cũ Hoan Châu, dựng lập đô thành, trước ở núi Thiếu Lĩnh, sau ở núi Nghĩa Lĩnh. Nay lấy núi Thiếu Lĩnh làm đô ấp sở tại của họ Việt Thường. Khi ấy vua đi tuần thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh, thấy bà cung phi Thần Long Quân nữ mang thai , có điềm lành ứng rồng, ánh hào quang đỏ đầy ắp nhà, trong trướng sinh hương, mùi hương ngào ngạt mấy tuần. . .( tờ 3a và 3b)

Trên đây là một số tín hiệu cho thấy đã từng xuất hiện kinh đô Ngàn Hống của nước Việt Thường trước khi có kinh đô Phong Châu của các vua Hùng. Ngàn Hống hay Hồng Lĩnh là một ngọn núi lớn ở phía bắc Hà Tĩnh. Núi nằm giữa các huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc va thị xã Hồng Lĩnh ngày nay. Kinh đô Ngàn Hống được định vị ở phía nam núi Hồng Lĩnh, trên phần đất các xã Thiên Lộc, Phúc Lộc, Tùng Lộc (huyện Can Lộc) ngày nay.

Đây là một vấn đề hết sức lớn của lịch sử. Bạn muốn tìm hiểu sâu hơn, xin tìm đọc cuốn Nhìn về thời đại Hùng Vương ( Phan Duy Kha, Nxb Lao Động, , 2009) trong đó có một số bài đáng chú ý về đề tài này :

–  Thử lý giải giấc mơ của vua Lê Thánh Tông

–  Việt Thường thị trong buổi đầu nền văn minh dân tộc

–  Đâu là quốc đô đầu tiên của người Việt.

– Về cội nguồn và hai cuộc thiên di của người Việt

– Thời dựng nước trong tư duy của chúng ta ngày nay.

Bạn sẽ có câu trả lời sâu hơn, thuyết phục hơn về vấn đề này. / .

Advertisements

Entry filed under: Uncategorized.

Nắm xương tàn liệt sĩ, biết tìm đâu bây giờ ? Thơ Hạnh Mai

7 phản hồi Add your own

  • 1. Dân 38  |  Tháng Một 7, 2013 lúc 5:15 chiều

    Cháu là người Can Lộc – Hà Tĩnh mà từ bé đến lớn chưa bao giờ nghe chuyện Ngàn Hống là cố đô của nước “Việt Thường Thị” mãi đến khi học đến cấp 3 mới đọc được thông tin về vùng đất cháu đang sống là cố đô của nước Việt cổ.
    Cháu nói thật, cái phần bác vòng tròn trên bản đồ thuộc địa phận 2 xã Vượng Lộc và Thiên Lộc huyện Can Lộc – Hà Tĩnh, chính xác hơn nó nằm bên phần xã Vượng Lộc nhiều hơn là Thiên Lôc.
    Về núi Hồng Lĩnh thì có nhiều truyền thuyết khá là mù mờ lắm bác ạ. Trên núi còn có rất nhiều điều khá là bí ẩn.
    Cháu cũng không tin cho lắm về vùng đất này là cố đô của nước Việt thời tiền sử, vì đây là vùng đất khô cằn “chó ăn đá gà ăn sỏi” cảnh sắc thì chẳng có gì đặc biệt hay đẹp đẽ. Đất ở đây chủ yếu là đất phèn chua, đất phù sa pha cát. Khu vực sông Hạ Vàng lại là vùng sông nhiễm mặn. Cháu nghe ông bà cháu kể, trước cách mạng tháng tám dân ở đây rất khổ cực, ngập lụt thường xuyên, lại còn mất mùa đói kém. Bác không sống ở đây nên bác không biết khí hậu ở đây nó khắc nghiệt như thế nào đâu, mùa hè thì có gió Lào khô nóng, nắng thì như thiêu đốt, mùa mưa thì lụt lội, rét cắt da cắt thịt, cháu cũng chẳng hiều đây có phải là đất tốt để làm vua “Kinh Dương Vương” đóng đô hay không nữa.
    Nếu đây là vùng đất cố đô của nước Việt cổ thì chỉ là cố đô của một nước Việt khác trong đại gia đình Bách Việt mà thôi. Vì cư dân vùng Nghệ Tĩnh có ngôn ngữ và dọng nói hoàn toàn khác xa với cư dân từ Thanh Hóa trở ra bắc. Nếu bác là người dân miền bắc lần đầu vào Hà Tĩnh thì bác phải rất khó khăn trong việc hiểu xem người dân địa phương đang nói gì với bác.
    Cháu là một trong những người thiên học về khối C nên cháu cũng biết rất rõ những gì ghi trong sách lịch sử từ cấp 2 đến cấp 3 của bộ giáo dục hoàn toàn khác xa với tất cả các sách giáo trình hay là sách tham khảo của các nhà nghiên cứu. Học môn lịch sử cháu rất thích học phần lịch sử thời Hồng Bàng, bởi vì phần này đơn giản, dễ học, lại có nhiều vấn đề để suy nghĩ về cổ sử của nước Việt xưa. Trước đây cháu từng suy nghĩ về việc liệu rằng có phải vùng đất Hoan châu xưa kia là một nước khác biệt với nước Văn Lang hay không, đặc biệt là từ năm lớp 10 khi cháu đọc được thông tin về cố đô Ngàn Hống, và trong sách “Tiến trình lịch sử Việt Nam” của Nguyễn Quang Ngọc có nói về vấn đề di chỉ văn hóa Bàu tró khu vực nam Hà Tĩnh và bắc Quảng Bình. Cháu thấy vùng Nghệ Tĩnh khá là cô lập so với từ Thanh Hóa trở ra bắc. Cư dân đây lại có văn hóa cũng khá là khác với cư dân từ Thanh Hóa trở ra. Hơn nữa sử sách cổ của Trung Hoa có nói về môt nước Việt Thường Thị ở vùng Hoan Châu.
    Theo cháu thì vùng đất này xưa là một nước khá biệt lập với nước Văn Lang, và sau này bị sát nhập vào với Văn Lang.
    Cháu biết lâp luận như thế này khá là không hợp lý, và phi logic, nghe như là chỉ có mình cháu tưởng tượng nó ra thế. Nhưng đối với cổ sử của Việt Nam thì khi lắp ráp các sự kiện truyền thuyết lại với nhau thì cũng nên thêm bớt sao cho hợp lý. Không biết cháu nói thế có đúng không, mặc dù cháu biết Sử không được nói bừa.

    Phản hồi
    • 2. phanduykha  |  Tháng Một 8, 2013 lúc 11:19 sáng

      Cảm ơn bạn đã có một bài phản hồi dài đối với bài viết của tôi. Những vấn đề bạn đặt ra chứng tỏ bạn là người có ý thức về việc tìm hiểu lịch sử, nhất là lịch sử Việt cổ. Những vấn đề mà tôi đặt ra trong bài viết là cũng tìm hiểu từ sách vở . Trong công việc sưu tầm, nghiên cứu, nhiều khi chỉ một thông tin cũng làm cho người ta chú ý. Huống chi vùng đất Ngàn Hống (nay gọi là Hồng Lĩnh), có nhiều nguồn thông tin chỉ rõ vị trí xưa là Kinh đô của Việt Thường. Mong bạn tìm hiểu thêm. Trong công việc này, càng độc lập càng tốt. Tôi không băn khoăn gì nhiều về việc vùng đất này cằn khô, chó ăn đá, gà ăn sỏi, không thể được chọn làm kinh đô, như bạn nghĩ. Cách đây trên 3.000 năm, điều kiện địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng khác ngày nay nhiều. Điều làm tôi băn khoăn là cho đến nay, chúng ta chưa phát hiện ra một di chỉ khảo cổ nào xứng tầm đối với một kinh đô xưa. Có lẽ đang nằm trong lòng đất chăng ?
      Thân ái chào bạn.

      Phản hồi
    • 3. phanduykha  |  Tháng Một 8, 2013 lúc 11:19 sáng

      Còn cái vòng tròn trên bản đồ là tôi theo tài liệu của GS Ngô Đức Thọ. Trong Ngọc phả Hùng Vương có ghi cụ thể vùng đất xưa là Kinh đô của Kinh Dương Vương là các xã Nội Thiên Lộc, Tả Thiên Lộc, Tỉnh Thạch thuộc huyện Thiên Lộc. Những địa danh này là từ thời Lê (khi lập Ngọc phả). Nay là phạm vi các xã Vượng Lộc, Thiên Lộc, Hồng Lộc, Phúc Lộc, Tùng Lộc thuộc huyện Can Lộc. (Bạn có thể xem mấy bài mới đăng trên Blog của tôi và trên báo KH & ĐS giới thiệu về Ngọc phả Hùng Vương sẽ rõ hơn)
      Ý kiến của bạn về một quốc gia khác thì trước đây cũng đã có người đề cập rồi. Bạn có thể tìm đọc Nghệ An ký của Hoàng giáp Bùi Dương Lịch (1757- 1828), trong đó ông có biện luận về một Quốc gia Việt Thường. Lập luận của ông khá thuyết phục.

      Phản hồi
    • 4. phanduykha  |  Tháng Một 8, 2013 lúc 11:23 sáng

      tl

      Phản hồi
  • […] – Cố đô Ngàn Hống mở đầu thời đại dựng nước […]

    Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lịch

Tháng Tư 2011
H B T N S B C
« Th3   Th6 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

Most Recent Posts


%d bloggers like this: